Tranh chấp thừa kế phát sinh khi người để lại di sản qua đời mà các đồng thừa kế không đạt được sự thống nhất trong việc phân chia tài sản. Trong trường hợp đó, khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế là giải pháp để giải quyết tranh chấp. Vậy, hồ sơ và trình tự thủ tục khởi kiện phân chia di sản thừa kế được quy định như thế nào?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Hồ sơ khởi kiện phân chia di sản thừa kế:
Hồ sơ khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế cần được chuẩn bị đầy đủ, chính xác và phù hợp với từng vụ việc cụ thể. Về cơ bản, hồ sơ khởi kiện phân chia di sản thừa kế bao gồm các giấy tờ và tài liệu sau đây:
- Đơn khởi kiện chia di sản thừa kế được lập theo đúng hình thức và nội dung quy định của pháp luật tố tụng dân sự; trong đó nêu rõ yêu cầu khởi kiện, thông tin các đồng thừa kế và di sản đề nghị Tòa án giải quyết;
- Giấy khai sinh của người khởi kiện (bản chính hoặc bản sao hợp lệ) nhằm chứng minh mối quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản;
- Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế, là căn cứ xác định thời điểm mở thừa kế theo quy định pháp luật;
- Bản kê khai di sản thừa kế, liệt kê cụ thể từng loại tài sản, giá trị ước tính và hiện trạng di sản đang tranh chấp;
- Các giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với di sản cũng như nguồn gốc hình thành tài sản của người để lại di sản (như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, giấy đăng ký tài sản, hợp đồng mua bán, tặng cho…);
- Giấy tờ tùy thân của người khởi kiện (chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu) bản sao có chứng thực theo quy định.
Việc chuẩn bị đầy đủ các tài liệu nêu trên không chỉ giúp Tòa án nhanh chóng thụ lý vụ án mà còn góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trong quá trình giải quyết tranh chấp thừa kế.
2. Quy trình thực hiện khởi kiện phân chia di sản thừa kế:
Theo khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì tranh chấp thừa kế là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, người có quyền hoàn toàn có thể khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu chia di sản thừa kế mà người mất để lại.
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực. Theo đó: Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; giải quyết những yêu cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Bộ luật này.
Trình tự, thủ tục khởi kiện phân chia di sản thừa kế được quy định như sau:
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện.
Theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện cần chuẩn bị 01 bộ hồ sơ khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế (Mục 1.1).
Trường hợp người khởi kiện chưa thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ thì vẫn phải nộp những tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền khởi kiện của mình. Các tài liệu còn thiếu có thể được bổ sung trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Bước 2: Nộp đơn khởi kiện và thụ lý vụ án. Hình thức nộp đơn khởi kiện.
Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây (khoản 1 Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015):
- Nộp trực tiếp tại Tòa án;
- Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;
- Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Sau khi nhận đơn khởi kiện hợp lệ, Thẩm phán được phân công sẽ xác định mức tiền tạm ứng án phí, ghi rõ trong giấy báo và giao cho người khởi kiện.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo, người khởi kiện có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí tại cơ quan thi hành án dân sự theo hướng dẫn trong giấy báo. Sau khi nộp, người khởi kiện phải nộp lại biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án.
Khi nhận được biên lai hợp lệ, Thẩm phán sẽ ra quyết định thụ lý vụ án và ghi vào sổ thụ lý theo quy định.
Bước 3: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
Theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm được quy định như sau:
- Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:
- Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;
- Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.
Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Trong giai đoạn này, Tòa án sẽ tiến hành các hoạt động tố tụng như: Lấy lời khai, thu thập chứng cứ, hòa giải giữa các đương sự (nếu đủ điều kiện), xác minh nguồn gốc và hiện trạng di sản.
Bước 4: Xét xử sơ thẩm và thi hành bản án.
Sau khi kết thúc giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc đình chỉ, Tòa án sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Kết thúc phiên tòa sơ thẩm, có thể phát sinh các trường hợp:
- Các đương sự kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm;
- Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
- Hoặc vụ án có thể được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định pháp luật.
Trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị hoặc sau khi đã giải quyết xong theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì bản án, quyết định của Tòa án sẽ có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải mọi trường hợp người thua kiện đều tự nguyện thi hành án. Khi đó, người được thi hành án cần làm đơn yêu cầu thi hành án, nộp phí thi hành án theo quy định và đề nghị cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
3. Án phí khi khởi kiện phân chia di sản thừa kế:
Trường hợp người khởi kiện không thuộc diện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật thì có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí theo thông báo của Tòa án. Việc nộp tiền tạm ứng án phí là điều kiện bắt buộc để Tòa án thụ lý vụ án; nếu người khởi kiện không thực hiện nghĩa vụ này trong thời hạn luật định thì Tòa án sẽ không thụ lý đơn khởi kiện.
Sau khi vụ án được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, án phí sẽ do bên thua kiện chịu; trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định riêng. Nghĩa vụ nộp án phí của từng đương sự sẽ được Tòa án xác định cụ thể và ghi rõ trong bản án.
Về mức thu, tiền tạm ứng án phí và án phí được áp dụng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Theo đó, đối với vụ án tranh chấp phân chia di sản thừa kế là nhà đất, mức tạm ứng án phí và án phí được xác định trên cơ sở giá trị tài sản có tranh chấp, tương ứng với từng khung giá trị theo quy định, nhằm bảo đảm việc thu án phí đúng, đủ và phù hợp với tính chất của vụ việc.
4. Thời hiệu khởi kiện phân chia di sản thừa kế:
Căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản đối với bất động sản là 30 năm được tính kể từ thời điểm mở thừa kế, tức là thời điểm người để lại di sản chết. Khi hết thời hạn này mà không có yêu cầu chia di sản thì di sản sẽ thuộc về người thừa kế đang trực tiếp quản lý, chiếm hữu di sản đó, theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan sẽ không được tính vào thời hiệu khởi kiện nhằm bảo đảm quyền khởi kiện của người thừa kế trong những trường hợp không thể thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình vì lý do khách quan.
Ngoài các quy định chung nêu trên, theo Hướng dẫn số 24/HD-VKSTC ngày 12/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, người thừa kế cần đặc biệt lưu ý một số trường hợp cụ thể liên quan đến việc xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế, bao gồm:
- Đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990, cụ thể: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản được tính từ ngày 10/9/1990;
- Trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991 mà không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia và di sản thừa kế là nhà ở thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10. Theo đó, thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện (theo khoản 2 Điều 17 Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10);
- Trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia và di sản thừa kế là nhà ở thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11. Theo đó, thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/9/2006 không tính vào thời hiệu khởi kiện (theo khoản 2 Điều 39 Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11).
5. Khởi kiện phân chia di sản thừa kế có phải hòa giải tại UBND cấp xã không?
Điều 235 Luật Đất đai 2024 quy định:
(1) Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải, hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải thương mại hoặc cơ chế hòa giải khác theo quy định của pháp luật.
(2) Trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại Điều 236 của Luật Đất đai 2024, các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp. Việc hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp được thực hiện như sau:
- Sau khi nhận được đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai;
- Thành phần Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai bao gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch Hội đồng, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, công chức làm công tác địa chính, người sinh sống lâu năm biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất tranh chấp (nếu có). Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện tổ chức, cá nhân khác tham gia Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai;
- Việc hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai;
- Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tham gia hòa giải và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp;
- Trường hợp hòa giải không thành mà một hoặc các bên tranh chấp không ký vào biên bản thì Chủ tịch Hội đồng, các thành viên tham gia hòa giải phải ký vào biên bản, đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã và gửi cho các bên tranh chấp.
Như vậy, chỉ tranh chấp đất đai (tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất) mới bắt buộc phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Còn tranh chấp chia thừa kế đất đai KHÔNG bắt buộc phải hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


