Nhiều trường hợp, giữa các cá nhân tồn tại mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng lâu dài, gắn bó như người thân trong gia đình nhưng lại không có giấy tờ xác nhận quan hệ cha mẹ, con cái hoặc nuôi con nuôi hợp pháp. Vậy cá nhân có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng có được chia thừa kế không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng được hiểu như thế nào?
“Quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng” được hiểu là quan hệ giữa người chăm sóc và người được chăm sóc. Theo đó, người chăm sóc nuôi dưỡng là người có quan hệ huyết thống, quan hệ pháp luật đối với người được chăm sóc nuôi dưỡng.
Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cũng quy định rõ:
- Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
- Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.
Ngoài ra, các thành viên khác trong gia đình sẽ có nghĩa vụ với nhau như sau (Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình 2014):
- Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 105 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu;
- Cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại;
- Trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng mình thì cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng.
Quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng xuất phát từ cơ sở nền tảng là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của các thành viên trong gia đình với nhau. Song, xét về toàn diện chung, quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng được nhìn nhận một cách khách quan là giá trị tư tưởng, đạo đức của mỗi thành viên trong gia đình với nhau (là phạm trù định hướng hành động). Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Bộ luật Dân sự 2015 cũng không quy định việc chăm sóc, nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình với nhau hoặc giữa cá nhân này với cá nhân khác sẽ giúp các chủ thể này đạt được quyền lợi gì.
Như vậy, có thể hiểu:
“Quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng là quan hệ được xác lập giữa người chăm sóc và người được chăm sóc dựa trên nền tảng đạo đức, tinh thần mà không có bất kỳ sự ràng buộc nào liên quan đến quyền lợi về tài chính hay sự trao đổi lợi ích theo quy định của pháp luật.”
2. Quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng có được chia thừa kế không?
Khi nhắc đến vấn đề chia thừa kế, ta thường nghĩ đến quyền lợi của các chủ thể có quan hệ gắn bó với người để lại di sản. Một trong số đó là quan hệ chăm sóc và nuôi dưỡng.
Như đã phân tích ở trên, theo quy định của pháp luật hiện hành, có 02 hình thức phân chia di sản thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Cần bám sát vào hai trường hợp này để xét xem quan hệ chăm sóc có được chia thừa kế không? Cụ thể như sau:
2.1. Trường hợp thừa kế theo pháp luật:
Trong trường hợp người để lại di sản thừa kế chết mà không để lại di chúc, hoặc di chúc không có hiệu lực thì sẽ tiến hành khai nhận di sản thừa kế theo pháp luật. Hiểu một cách đơn giản, thừa kế theo pháp luật là việc tiến hành khai nhận và phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật (Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015).
Theo quy định của khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015, đối tượng được phân chia di sản thừa kế theo pháp luật sẽ được xét theo hàng thừa kế:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Thừa kế theo pháp luật tuân thủ theo nguyên tắc sau đây: Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Đồng thời, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Như vậy, đối với trường hợp thừa kế theo pháp luật, đối tượng được hưởng di sản thừa kế sẽ được xét theo hàng thừa kế:
- Nếu người thực hiện chăm sóc người để lại di sản thừa kế hoặc được người để lại di sản thừa kế nuôi dưỡng nằm trong đối tượng được hưởng di sản thừa kế theo hàng thừa kế thì sẽ ĐƯỢC chia thừa kế;
- Ngược lại, nếu người có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng với người để lại di sản thừa kế không nằm trong đối tượng được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật thì sẽ KHÔNG ĐƯỢC chia thừa kế.
Ví dụ:
Chị Nguyễn Thị K (38 tuổi) là cháu họ của bà Trần Thị M (90 tuổi). Bà M có ba người con, song cả ba người đều sinh sống và làm việc xa nhà, không trực tiếp chăm sóc bà được. Chị K không có chồng con, nên sống cùng bà M. Trong suốt khoảng thời gian dài khi bà M bị đau ốm, bệnh tật, chị K là người trực tiếp lo lắng, chăm sóc cho bà. Đầu năm 2022, bà M mất. Do mất đột ngột nên bà không để lại di chúc. Vậy nên, tài sản mà bà M để lại sẽ chia cho các đối tượng thuộc hàng thừa kế thứ nhất (các con của bà M) theo quy định của pháp luật. Chị M với tư cách là người trực tiếp nuôi dưỡng bà M, song lại không thuộc đối tượng trong hàng thừa kế thứ nhất, nên chị không được hưởng di sản thừa kế của bà M.
2.2. Trường hợp thừa kế theo di chúc:
Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Bản chất của thừa kế theo di chúc là việc phân chia di sản thừa kế theo mong muốn, ý chí của người để lại di sản thừa kế. Do đó, trong trường hợp này, cá nhân có thể để tài sản của mình cho bất kỳ ai mà mình muốn. Họ có thể để người chăm sóc nuôi dưỡng mình vào danh sách được hưởng tài sản trong di chúc.
Hay nói cách khác, trong trường hợp thừa kế theo di chúc, dựa vào mong muốn và ý chí của người để lại di sản thừa kế khi lập di chúc, người có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng được chia thừa kế theo nội dung của bản di chúc.
Như vậy: Người có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng với người để lại di sản thừa kế sẽ ĐƯỢC chia thừa kế khi người để lại di sản làm di chúc để lại tài sản cho chủ thể thừa kế. Trong trường hợp không để lại di chúc, người chăm sóc chỉ được chia thừa kế khi thuộc đối tượng được hưởng di sản thừa kế (theo hàng thừa kế) theo quy định của pháp luật (mục 2.1).
3. Nên làm gì để bảo đảm quyền lợi cho người có quan hệ nuôi dưỡng?
Trong bối cảnh pháp luật không mặc nhiên công nhận quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng thực tế là căn cứ phát sinh quyền thừa kế theo pháp luật, việc bảo đảm quyền lợi cho những người có công nuôi dưỡng người để lại di sản cần được thực hiện thông qua các cơ chế pháp lý phù hợp. Dưới đây là những phương án hiệu quả và phổ biến nhất:
3.1. Lập di chúc để định đoạt tài sản:
Giải pháp quan trọng và an toàn nhất để bảo đảm quyền lợi cho người có quan hệ nuôi dưỡng là người để lại di sản chủ động lập di chúc hợp pháp.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, cá nhân có quyền tự do định đoạt tài sản của mình thông qua di chúc, bao gồm việc chỉ định bất kỳ người nào được hưởng di sản, không phụ thuộc vào việc người đó có thuộc hàng thừa kế theo pháp luật hay không (Điều 624 và Điều 626). Do đó, người có công chăm sóc nuôi dưỡng hoàn toàn có thể được hưởng di sản nếu được chỉ định trong di chúc.
Tuy nhiên, để di chúc có giá trị pháp lý, cần bảo đảm các điều kiện về năng lực hành vi, ý chí tự nguyện, nội dung và hình thức theo quy định (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015). Trong thực tế, việc lập di chúc bằng văn bản có công chứng, chứng thực sẽ giúp hạn chế tối đa rủi ro bị tranh chấp hoặc bị tuyên vô hiệu sau này.
3.2. Thỏa thuận giữa các đồng thừa kế:
Trong trường hợp người để lại di sản không lập di chúc, người có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng vẫn có thể được bảo đảm quyền lợi thông qua sự thỏa thuận của các đồng thừa kế hợp pháp.
Cụ thể, sau khi mở thừa kế, các đồng thừa kế có quyền cùng nhau lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản, trong đó có thể thống nhất dành một phần tài sản cho người đã có công chăm sóc, phụng dưỡng người chết. Đây là cơ chế mang tính linh hoạt thể hiện sự ghi nhận công sức và yếu tố đạo lý trong quan hệ gia đình, xã hội.
Tuy nhiên, phương án này phụ thuộc hoàn toàn vào sự đồng thuận của các đồng thừa kế. Nếu không đạt được sự thống nhất, người có quan hệ nuôi dưỡng sẽ không có căn cứ pháp lý trực tiếp để yêu cầu hưởng di sản theo cách này.
3.3. Yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp:
Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, người có công chăm sóc, nuôi dưỡng có thể yêu cầu Tòa án xem xét bảo vệ quyền lợi của mình. Mặc dù pháp luật không quy định họ là người thừa kế theo pháp luật, nhưng trong một số trường hợp cụ thể, Tòa án có thể xem xét công sức đóng góp, chăm sóc và nuôi dưỡng để đưa ra phán quyết phù hợp.
Thực tiễn xét xử cho thấy, nếu có đủ căn cứ chứng minh việc chăm sóc, nuôi dưỡng là liên tục, thực tế và có ý nghĩa quan trọng đối với người để lại di sản thì Tòa án có thể xem xét:
- Công nhận một phần quyền lợi về tài sản;
- Hoặc buộc các đồng thừa kế thanh toán một khoản tương ứng với công sức đóng góp.
Tuy nhiên, việc này không mang tính đương nhiên mà phụ thuộc vào từng vụ việc cụ thể, chứng cứ cung cấp và đánh giá của cơ quan xét xử.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


