Trong nhiều vụ việc thừa kế, không phải mọi giá trị của di sản đều được hình thành từ công sức của người để lại tài sản mà còn có sự gìn giữ, bảo quản và thậm chí làm gia tăng giá trị từ những người đang trực tiếp quản lý di sản sau khi người chết qua đời. Vậy, xác định công sức cho người quản lý di sản thừa kế như thế nào?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Người quản lý di sản thừa kế có được hưởng công sức đóng góp, quản lý di sản không?
Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
- Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra;
- Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản;
- Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015 thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý.
Người quản lý di sản là chủ thể trực tiếp thực hiện việc bảo quản, gìn giữ và quản lý khối tài sản do người đã chết để lại, nhằm đảm bảo giá trị và tình trạng pháp lý của di sản trong thời gian chờ phân chia. Việc xác định người quản lý di sản có thể được thực hiện theo các căn cứ sau:
- Người quản lý di sản có thể được người để lại di sản chỉ định rõ trong di chúc. Đây là trường hợp thể hiện ý chí định đoạt của người chết và được ưu tiên áp dụng;
- Trong trường hợp di chúc không có chỉ định, những người thừa kế có quyền thỏa thuận cử ra một người quản lý di sản để đảm bảo việc quản lý được thống nhất và hiệu quả;
- Nếu không có chỉ định trong di chúc và các đồng thừa kế cũng chưa thống nhất cử người quản lý, thì người đang thực tế chiếm hữu, sử dụng hoặc quản lý di sản sẽ tạm thời là người quản lý di sản theo quy định của pháp luật.
Khoản 1 Điều 617 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người quản lý di sản có những nghĩa vụ sau đây:
- Lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản;
- Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế;
- Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại;
- Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế.
Việc người quản lý di sản được pháp luật bảo vệ quyền lợi là hoàn toàn hợp lý bởi trên thực tế họ đã bỏ ra công sức, thời gian, thậm chí chi phí tài chính để bảo quản, duy trì và trong nhiều trường hợp còn làm gia tăng giá trị của khối di sản. Chính vì vậy, theo quy định tại Điều 618 Bộ luật Dân sự năm 2015, người quản lý di sản có quyền yêu cầu thanh toán các chi phí hợp lý phục vụ cho việc bảo quản di sản.
Ngoài ra, pháp luật còn đặt chi phí bảo quản di sản vào vị trí ưu tiên cao trong thứ tự thanh toán các nghĩa vụ liên quan đến thừa kế. Cụ thể, theo Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015, chi phí cho việc bảo quản di sản được xếp ở vị trí thứ ba (sau chi phí mai táng và tiền cấp dưỡng còn thiếu). Điều này thể hiện rõ quan điểm của nhà làm luật trong việc coi trọng việc duy trì, bảo toàn giá trị di sản trước khi tiến hành phân chia.
Thực tiễn xét xử cũng đã ghi nhận và bảo vệ quyền lợi của người có công quản lý, tôn tạo di sản. Cụ thể, án lệ số 05/2026/AL xác định rằng: “Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương sự thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nhưng không đồng ý việc chia thừa kế (vì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế), không có yêu cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp của họ vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế; nếu Tòa án quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sức đóng góp của họ vì yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức.”
Như vậy: Trong quá trình phân chia di sản thừa kế cần xem xét đến công sức đóng góp của người quản lý di sản thừa kế.
Pháp luật dân sự Việt Nam đã xây dựng một cơ chế tương đối đầy đủ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người quản lý di sản, bảo đảm sự công bằng, khách quan trong quá trình giải quyết các quan hệ thừa kế.
2. Cách xác định công sức cho người quản lý di sản thừa kế:
Việc xác định công sức của người quản lý di sản thừa kế trên thực tế không có một mức ấn định cứng trong mọi trường hợp, mà sẽ do Tòa án xem xét dựa trên tính chất quản lý, thời gian quản lý, mức độ đóng góp, công sức bảo quản, gìn giữ, tôn tạo và làm gia tăng giá trị của di sản. Khi đánh giá, Tòa án thường cân nhắc toàn diện các yếu tố như:
- Người đó có trực tiếp trông nom, sử dụng, bảo vệ tài sản hay không;
- Có bỏ ra chi phí, thời gian, công sức để sửa chữa, duy trì giá trị tài sản hay không;
- Việc quản lý đó có giúp ngăn ngừa di sản bị hư hỏng, xuống cấp hoặc thất thoát hay không…
Về mức công sức cụ thể, thực tiễn xét xử cho thấy Thẩm phán có thể xem xét trích cho người quản lý di sản một phần giá trị tương ứng với công sức đóng góp nhưng thông thường không vượt quá một suất thừa kế theo pháp luật. Đây không phải là nguyên tắc bắt buộc áp dụng trong mọi vụ án mà là cách thức giải quyết được hình thành từ thực tiễn xét xử nhằm bảo đảm sự công bằng giữa người có công gìn giữ di sản với các đồng thừa kế khác.
Cách xác định này đã được ghi nhận trong nhiều bản án của Tòa án. Đơn cử: Bản án số 825/2023/DS-ST ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố H về tranh chấp thừa kế tài sản.
Đây là vụ án tranh chấp thừa kế đối với căn nhà, đất số 100/54 đường L, Phường M, quận B, Thành phố H, là tài sản do cụ Nguyễn Văn V2 và cụ Dương Thị S để lại. Hai cụ chết không để lại di chúc. Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ái Tr yêu cầu Tòa án chia di sản theo pháp luật cho các đồng thừa kế. Ban đầu, bị đơn là bà Nguyễn Thị Ái V không đồng ý chia vì đang sinh sống tại căn nhà và không có nơi ở khác, nhưng tại phiên tòa sau đó bà V đồng ý chia thừa kế theo quy định.
Qua xem xét, Tòa án xác định cụ V2 và cụ S có 8 người con, trong đó 1 người con là ông Nguyễn Văn Th2 đã chết trước cha mẹ và không có vợ con, còn bà Nguyễn Thị S1 đã chết sau cha mẹ và có 6 người con. Vì vậy, những người được hưởng di sản gồm 7 người con còn quyền thừa kế và phần của bà S1 do các con bà S1 kế thừa.
Tòa án nhận định bà Nguyễn Thị Ái V và ông Nguyễn Công X là những người sống tại nhà từ nhỏ đến nay, có công quản lý, gìn giữ, tôn tạo di sản nên chấp nhận áp dụng Án lệ số 05/2016/AL để xem xét công sức đóng góp. Theo đó, toàn bộ di sản được chia thành 8 phần bằng nhau:
- 7 phần chia cho 7 suất thừa kế theo pháp luật;
- Phần còn lại dành cho bà V và ông X vì công sức quản lý, bảo quản di sản.
Do nhà đất không thể chia hiện vật, Tòa án quyết định bán tài sản để chia tiền. Sau khi trừ chi phí bán tài sản, mỗi người thừa kế được hưởng 1/8 giá trị còn lại; riêng bà V và ông X còn được hưởng thêm phần công sức đóng góp. Phần di sản của bà S1 được tạm giao cho bà V quản lý để sau này giao lại cho các con bà S1 theo Án lệ số 06/2016/AL. Đồng thời, Tòa án cho bà V và gia đình ông X được lưu cư tại nhà 3 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực trước khi bàn giao nhà để thi hành án.
3. Cách thức chứng minh công sức cho người quản lý di sản thừa kế:
Trong các tranh chấp thừa kế, việc xác định và ghi nhận công sức của người quản lý di sản không đương nhiên được thừa nhận, mà phải dựa trên chứng cứ cụ thể do chính người có yêu cầu cung cấp. Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Vì vậy, người cho rằng mình có công sức đóng góp vào việc quản lý, bảo quản hoặc làm gia tăng giá trị di sản cần chủ động thu thập và xuất trình các tài liệu, chứng cứ chứng minh. Thực tiễn, các loại chứng cứ thường được Tòa án xem xét bao gồm:
- Các giấy tờ, hóa đơn, chứng từ liên quan đến việc sửa chữa, xây dựng, cải tạo hoặc đầu tư vào tài sản. Đây là nhóm chứng cứ quan trọng thể hiện trực tiếp chi phí và công sức vật chất mà người quản lý đã bỏ ra.
- Các tài liệu chứng minh việc thanh toán chi phí mai táng, chi phí chăm sóc, nghĩa vụ tài sản của người chết (nếu có), trong trường hợp những khoản này gắn liền với việc quản lý và bảo toàn di sản.
- Lời khai của nhân chứng như hàng xóm, người thân, người cùng sinh sống hoặc những người có liên quan nhằm xác nhận quá trình quản lý, sử dụng, trông coi tài sản một cách liên tục, thực tế.
- Các tài liệu, hình ảnh, video, giấy tờ hành chính hoặc các chứng cứ khác thể hiện việc người đó trực tiếp quản lý, bảo quản, sử dụng hoặc duy trì di sản trong một thời gian dài.
Những chứng cứ này sẽ là cơ sở quan trọng để Tòa án đánh giá toàn diện mức độ đóng góp thực tế của người quản lý di sản. Trên cơ sở đó, Tòa án có thể quyết định thanh toán chi phí hợp lý hoặc trích cho họ một phần giá trị di sản tương xứng với công sức đã bỏ ra nhằm bảo đảm sự công bằng và khách quan trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


