Trong quan hệ thừa kế, di chúc được xem là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để xác định ý chí của người để lại di sản. Tuy nhiên, không phải mọi di chúc được lập đều có hiệu lực pháp luật. Vậy: Nội dung chia thừa kế trường hợp di chúc không có hiệu lực pháp luật được quy định như thế nào?
Mục lục bài viết
1. Di chúc không có hiệu lực pháp luật, chia thừa kế như thế nào?
Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về những trường hợp thừa kế theo pháp luật. Theo đó, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
- Không có di chúc;
- Di chúc không hợp pháp;
- Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
- Cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Như vậy: Di chúc được xác lập không hợp pháp, không có hiệu lực pháp luật thì đồng nghĩa với việc không làm phát sinh bất kỳ hiệu lực pháp luật nào. Việc xác định và tuyên bố một di chúc là không hợp pháp, vô hiệu thuộc thẩm quyền của Tòa án, trừ những trường hợp di chúc đương nhiên vô hiệu theo quy định của pháp luật.
Trường hợp di chúc không có hiệu lực pháp luật sẽ được chia theo pháp luật về thừa kế, trừ trường hợp phần di sản đó bị tịch thu do nội dung di chúc vi phạm nghiêm trọng pháp luật, chẳng hạn như chỉ định tổ chức phản động hưởng di sản, hoặc để lại di sản cho người thừa kế nhằm sử dụng vào các mục đích trái pháp luật như khủng bố, buôn lậu, chứa mại dâm, tổ chức đánh bạc và các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm khác.
Cần đặc biệt lưu ý sự khác biệt giữa di chúc và hợp đồng, giao dịch dân sự trong việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định của pháp luật, tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, do đó việc định đoạt phải có sự thỏa thuận và đồng ý của cả hai vợ chồng. Trường hợp một bên vợ hoặc chồng tự ý xác lập hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản chung mà không có sự đồng ý của bên còn lại thì hợp đồng, giao dịch đó có thể bị tuyên vô hiệu.
Tuy nhiên, nguyên tắc này không áp dụng đối với việc lập di chúc. Theo đó, trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng lập di chúc riêng để định đoạt toàn bộ tài sản chung, thì di chúc không bị vô hiệu toàn bộ, mà chỉ bị vô hiệu đối với phần tài sản vượt quá quyền định đoạt của người lập di chúc; phần di sản hợp pháp còn lại vẫn có hiệu lực thi hành theo quy định của pháp luật.
2. Thủ tục yêu cầu Tòa án chia thừa kế khi di chúc không có hiệu lực:
Khi di chúc không có hiệu lực pháp luật (vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần) và các đồng thừa kế không thể tự thỏa thuận được việc phân chia di sản, thì người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia thừa kế theo pháp luật. Trình tự, thủ tục được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và pháp luật về thừa kế.
2.1. Hồ sơ khởi kiện chia thừa kế:
Người yêu cầu chia thừa kế cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ khởi kiện, bao gồm:
- Đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế (theo mẫu của Tòa án), trong đó nêu rõ:
- Thông tin người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền, nghĩa vụ liên quan;
- Quan hệ thừa kế với người để lại di sản;
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc không có hiệu lực (nếu chưa có bản án/quyết định trước đó);
- Yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật.
- Giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế, như: Giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, quyết định nhận con nuôi (nếu có)…
- Giấy chứng tử của người để lại di sản;
- Di chúc (bản gốc hoặc bản sao hợp lệ) nếu có tranh chấp về hiệu lực di chúc;
- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với di sản, như:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở;
- Giấy đăng ký xe, sổ tiết kiệm, cổ phần, phần vốn góp…
- Chứng cứ chứng minh di chúc không có hiệu lực như: tài liệu y tế, kết luận giám định chữ viết, chữ ký, băng ghi âm, ghi hình, lời khai nhân chứng…
- Các tài liệu, chứng cứ khác có liên quan theo yêu cầu của Tòa án.
2.2. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Thẩm quyền giải quyết vụ án chia thừa kế khi di chúc không có hiệu lực thuộc về Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền (Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015). Cụ thể như sau:
- Đối với di sản là bất động sản, Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết;
- Đối với di sản là động sản, Tòa án nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản hoặc nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền.
Việc xác định đúng thẩm quyền của Tòa án là yếu tố quan trọng nhằm tránh việc bị trả lại đơn khởi kiện hoặc kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
2.3. Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án thừa kế:
Trình tự giải quyết yêu cầu chia thừa kế khi di chúc không có hiệu lực được thực hiện theo các bước cơ bản sau:
Bước 1: Nộp đơn khởi kiện và hồ sơ kèm theo tại Tòa án có thẩm quyền (hồ sơ nêu tại mục 2.1).
Bước 2: Tòa án xem xét đơn khởi kiện:
- Trường hợp hồ sơ hợp lệ, Tòa án ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí;
- Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, Tòa án yêu cầu sửa đổi, bổ sung.
Sau đó tiến hành thụ lý vụ án sau khi người khởi kiện nộp biên lai tạm ứng án phí theo quy định.
Bước 3: Giai đoạn chuẩn bị xét xử:
- Thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ;
- Xác minh di sản thừa kế;
- Xác định hàng thừa kế, người thừa kế;
- Tiến hành hòa giải giữa các đương sự.
Bước 4: Xét xử sơ thẩm:
- Trường hợp hòa giải không thành, Tòa án mở phiên tòa xét xử;
- Tòa án xem xét hiệu lực của di chúc, xác định phạm vi di sản và quyết định việc chia thừa kế theo pháp luật.
Bước 5: Kháng cáo, kháng nghị (nếu có):
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thời hạn luật định;
- Vụ án có thể được xét xử phúc thẩm theo quy định.
Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật là căn cứ để các đồng thừa kế thực hiện việc đăng ký sang tên tài sản, phân chia hiện vật hoặc thanh toán giá trị di sản theo đúng nội dung đã được tuyên.
3. Những vướng mắc thường gặp khi chia thừa kế do di chúc không có hiệu lực:
Trong thực tế giải quyết các vụ việc thừa kế, khi di chúc không có hiệu lực pháp luật, việc phân chia di sản thường phát sinh nhiều vướng mắc và tranh chấp phức tạp. Các khó khăn này không chỉ xuất phát từ yếu tố pháp lý mà còn liên quan đến mối quan hệ gia đình, tâm lý và lợi ích kinh tế của các bên thừa kế. Cụ thể như sau:
3.1. Tranh chấp giữa các đồng thừa kế:
Một trong những vướng mắc phổ biến nhất là tranh chấp giữa các đồng thừa kế về quyền hưởng di sản và tỷ lệ hưởng. Khi di chúc bị tuyên vô hiệu, việc chia thừa kế sẽ áp dụng theo pháp luật, từ đó dẫn đến:
- Bất đồng trong việc xác định hàng thừa kế, đặc biệt đối với các trường hợp có con riêng, con nuôi, con ngoài giá thú;
- Tranh chấp về phần di sản được hưởng, nhất là khi có người đã quản lý, sử dụng di sản trong thời gian dài;
- Mâu thuẫn về việc chia hiện vật hay chia theo giá trị, đặc biệt đối với nhà đất là di sản thừa kế.
Những tranh chấp này thường kéo dài, gây ảnh hưởng đến tình cảm gia đình và làm phức tạp quá trình giải quyết tại Tòa án.
3.2. Khó khăn trong việc xác định di sản thừa kế:
Việc xác định phạm vi và giá trị di sản thừa kế là trở ngại lớn khi di chúc không có hiệu lực, đặc biệt là trong các trường hợp:
- Di sản là tài sản chung của vợ chồng, nhưng chưa được phân định rõ phần sở hữu của người để lại di sản;
- Tài sản chưa có giấy tờ pháp lý đầy đủ, như đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…;
- Di sản đã bị chuyển dịch, thay đổi hiện trạng, bị thế chấp, cầm cố hoặc cho người khác thuê, mượn;
- Có tranh chấp về việc tài sản có phải là di sản thừa kế hay không, do được hình thành trước hay sau thời điểm mở thừa kế.
Việc không xác định rõ di sản thường dẫn đến việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án và phát sinh thêm nhiều yêu cầu tranh chấp khác.
3.3. Tranh chấp liên quan đến người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc:
Ngay cả khi di chúc có nội dung rõ ràng thì trong trường hợp di chúc không có hiệu lực hoặc bị vô hiệu một phần, vẫn phát sinh tranh chấp liên quan đến người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như (Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015):
- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
- Con thành niên mà không có khả năng lao động.
Việc xác định phần di sản bắt buộc cho các đối tượng này thường là nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện bởi các đồng thừa kế khác cho rằng quyền lợi của mình đang bị xâm phạm.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


