Trong đời sống hôn nhân, không ít cặp vợ chồng rơi vào tình trạng ly thân kéo dài nhưng chưa thực hiện thủ tục ly hôn. Khi một bên qua đời trong giai đoạn này, vấn đề quyền tài sản lại được đặt ra, đặc biệt là quyền hưởng thừa kế của người còn lại. Vậy, đã ly thân có được hưởng thừa kế của vợ/chồng hay không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Đã ly thân có được hưởng thừa kế của vợ/chồng không?
Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về ly hôn như sau: Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về thời điểm chấm dứt hôn nhân và trách nhiệm gửi bản án, quyết định ly hôn như sau:
- Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
- Tòa án đã giải quyết ly hôn phải gửi bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên ly hôn; cá nhân, cơ quan, tổ chức khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các luật khác có liên quan.
Theo đó, ly thân KHÔNG phải là căn cứ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân theo quy định của pháp luật. Do đó, dù không còn chung sống, vợ chồng vẫn được pháp luật công nhận là quan hệ hôn nhân hợp pháp và tiếp tục phát sinh đầy đủ quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo Luật Hôn nhân và gia đình cũng như các quy định pháp luật có liên quan.
Đồng thời, Điều 655 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung; vợ, chồng đang xin ly hôn hoặc đã kết hôn với người khác
- Trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản;
- Trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản;
- Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.
Điều 649 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về thừa kế theo pháp luật như sau: Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
Khoản 1 Điều 650 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật. Theo đó, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
- Không có di chúc;
- Di chúc không hợp pháp;
- Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Và Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định người thừa kế theo pháp luật như sau:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Như vậy: Dù vợ chồng đã ly thân mà chưa ly hôn thì vẫn ĐƯỢC thừa kế di sản khi vợ/chồng hợp pháp chết.
2. Những trường hợp vợ/chồng không được hưởng thừa kế khi ly thân:
Mặc dù pháp luật hiện hành thừa nhận vợ, chồng là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và có quyền hưởng di sản của nhau, kể cả trong trường hợp đang ly thân, tuy nhiên quyền này không phải là tuyệt đối. Trong một số trường hợp nhất định, vợ hoặc chồng có thể bị hạn chế hoặc bị tước quyền hưởng thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc xác định đúng các trường hợp này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
2.1. Người bị truất quyền hưởng di sản theo di chúc:
Trong trường hợp người chết có lập di chúc hợp pháp, họ có quyền truất quyền hưởng di sản của bất kỳ người thừa kế nào, bao gồm cả vợ hoặc chồng. Quyền này được ghi nhận tại Điều 626 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó người lập di chúc có quyền chỉ định hoặc loại trừ người thừa kế theo ý chí của mình.
Tuy nhiên, việc truất quyền này phải được thể hiện rõ ràng trong nội dung di chúc. Nếu di chúc không đề cập hoặc không thể hiện rõ ý chí loại trừ thì người vợ hoặc chồng vẫn có thể được xem xét hưởng di sản theo quy định. Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt, dù bị truất quyền trong di chúc, người vợ hoặc chồng vẫn có thể được hưởng một phần di sản nếu thuộc diện người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của pháp luật (Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015).
2.2. Người không có quyền hưởng di sản theo pháp luật:
Bên cạnh quyền truất quyền theo di chúc, pháp luật còn quy định một số trường hợp mà người thừa kế, bao gồm vợ hoặc chồng, đương nhiên không được quyền hưởng di sản. Theo Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Trong những trường hợp này, dù vẫn tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, người vợ hoặc chồng vẫn bị tước quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật. Đây là cơ chế nhằm bảo vệ đạo đức xã hội và đảm bảo công bằng trong việc phân chia tài sản.
2.3. Các hành vi dẫn đến mất quyền thừa kế:
Ngoài các trường hợp bị tước quyền theo quy định của pháp luật hoặc theo di chúc, người vợ hoặc chồng còn có thể mất quyền hưởng thừa kế trong một số tình huống khác mang tính chủ động. Cụ thể, nếu người thừa kế tự nguyện từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì sẽ không còn quyền đối với phần di sản đó:
- Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác;
- Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết;
- Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.
Bên cạnh đó, trong trường hợp người vợ hoặc chồng đã hoàn tất thủ tục ly hôn theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án trước thời điểm mở thừa kế thì quan hệ hôn nhân đã chấm dứt. Khi đó, họ không còn tư cách là vợ/chồng hợp pháp và đương nhiên không thuộc hàng thừa kế theo pháp luật của nhau.
Ngoài ra, nếu có căn cứ chứng minh người thừa kế có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt di sản hoặc vi phạm nghĩa vụ pháp lý nghiêm trọng, Tòa án có thể xem xét loại trừ quyền hưởng thừa kế để bảo đảm tính công bằng và đúng quy định của pháp luật.
3. Ảnh hưởng của ly thân đến việc chia tài sản thừa kế:
Ly thân là một trạng thái thực tế trong quan hệ hôn nhân, nhưng không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng về mặt pháp lý. Tuy nhiên, việc ly thân lại có những tác động nhất định đến quá trình xác định và phân chia tài sản khi một bên chết. Đặc biệt, trong nhiều trường hợp, ly thân là nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp liên quan đến việc xác định tài sản chung, tài sản riêng và quyền hưởng di sản của vợ hoặc chồng.
3.1. Xác định tài sản chung và tài sản riêng:
Một trong những vấn đề quan trọng nhất khi chia thừa kế trong thời kỳ ly thân là xác định rõ tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng và tài sản nào là tài sản riêng của người chết. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc được coi là tài sản chung, trừ khi có căn cứ chứng minh là tài sản riêng.
Cụ thể, Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
Trong thời gian ly thân, dù hai bên không còn chung sống nhưng nếu chưa ly hôn thì về nguyên tắc, tài sản phát sinh vẫn có thể được coi là tài sản chung nếu không có thỏa thuận khác hoặc không chứng minh được là tài sản riêng. Điều này dẫn đến thực tế là nhiều tài sản được hình thành trong thời gian ly thân vẫn thuộc khối tài sản chung, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định phần di sản khi một bên qua đời.
3.2. Phân chia phần tài sản của vợ/chồng trước khi chia thừa kế:
Trước khi tiến hành chia thừa kế, cần phải thực hiện bước xác định và tách phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người còn sống trong khối tài sản chung. Đây là nguyên tắc quan trọng nhằm tránh việc nhầm lẫn giữa tài sản của người chết và tài sản của người còn sống.
Cụ thể, nếu tài sản là tài sản chung của vợ chồng thì khi một bên chết, chỉ phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết mới được đưa vào khối di sản để chia thừa kế. Phần còn lại thuộc quyền sở hữu của người vợ hoặc chồng còn sống và không phải là di sản. Trong trường hợp ly thân, việc xác định tỷ lệ sở hữu có thể phức tạp hơn, đặc biệt khi các bên không còn cùng quản lý tài sản hoặc có sự đóng góp không đồng đều.
3.3. Những tranh chấp thường gặp trong thực tiễn:
Trong thực tế, ly thân thường là yếu tố làm gia tăng các tranh chấp liên quan đến thừa kế. Một trong những tranh chấp phổ biến là việc người thân của người chết cho rằng vợ hoặc chồng đang ly thân không còn quyền hưởng di sản, từ đó yêu cầu loại trừ họ khỏi hàng thừa kế. Tuy nhiên, như đã phân tích tại mục 1, ly thân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, do đó người vợ hoặc chồng vẫn có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật nếu chưa ly hôn.
Một dạng tranh chấp khác liên quan đến việc xác định tài sản phát sinh trong thời gian ly thân là tài sản chung hay riêng. Do không còn sống chung, việc chứng minh nguồn gốc tài sản, công sức đóng góp và quyền sở hữu trở nên khó khăn, dẫn đến mâu thuẫn giữa các bên.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, mâu thuẫn tình cảm trong thời gian ly thân khiến người chết lập di chúc với nội dung loại trừ vợ hoặc chồng khỏi quyền hưởng di sản. Điều này dễ dẫn đến tranh chấp về tính hợp pháp của di chúc hoặc quyền hưởng di sản bắt buộc của người còn sống.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


