Trong đời sống gia đình, việc một người thân qua đời không chỉ để lại mất mát về tinh thần mà còn kéo theo nhiều vấn đề pháp lý phức tạp, đặc biệt là liên quan đến tài sản. Khi người chồng qua đời, không ít người cho rằng người vợ đương nhiên có toàn quyền quản lý và quyết định việc phân chia di sản. Vậy: Chồng mất, vợ có được toàn quyền quản lý và chia di sản không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Vợ có được toàn quyền phân chia di sản khi chồng mất không?
Điều 651 của Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định về những người thừa kế theo pháp luật. Theo đó, những người thừa kế theo pháp luật được ghi nhận với thứ tự như sau:
- Hàng thừa kế thứ nhất theo quy định của pháp luật hiện nay bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người đã qua đời;
- Hàng thừa kế thứ hai theo quy định của pháp luật hiện nay bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người đã qua đời; cháu ruột của người đã qua đời mà người đã qua đời là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba theo quy định của pháp luật hiện nay bao gồm: cụ nội, cụ ngoại của người đã qua đời; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người đã qua đời; cháu ruột của người đã qua đời mà người đã qua đời là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người đã qua đời mà người đã qua đời là cụ nội, cụ ngoại.
Những người cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng một phần di sản tương đương và bằng nhau. Ngoài ra, những người ở hàng thừa kế sau sẽ chỉ được hưởng thừa kế đối với di sản mà người chết để lại nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước đó; tức là những người thuộc hàng thừa kế trước đó đã qua đời hoặc không có quyền hưởng di sản thừa kế, hoặc họ bị truất quyền hưởng di sản hoặc tự nguyện từ chối nhận di sản mà không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với người thứ ba (khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015).
Như vậy: Khi người chồng qua đời thì tài sản sẽ được chia theo di chúc của người chồng, nếu vợ chồng không có di chúc thì tài sản của người chồng sẽ được chia theo hàng thừa kế. Vì thế, vợ chỉ là một trong những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người chồng. Hay nói cách khác, khi chồng qua đời thì vợ sẽ KHÔNG được toàn quyền chia di sản của người chồng để lại. Những người thuộc hàng thừa kế có thể tự thỏa thuận về việc chia thừa kế của người chồng, nếu như không thể tự thỏa thuận chia thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó là Tòa án sẽ chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
2. Vợ có được toàn quyền quản lý di sản khi chồng mất không?
Hiện nay, căn cứ theo quy định tại Điều 66 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về việc giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên qua đời hoặc trong trường hợp bị Tòa án tuyên bố là đã chết như sau:
- Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản;
- Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế;
- Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự;
- Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 66 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.
Như vậy: Khi người chồng chết không để lại di chúc hoặc những người trong hàng thừa kế không có yêu cầu phân chia di sản theo nguyện vọng của mình thì người vợ sẽ có quyền quản lý tài sản của vợ chồng sau khi chồng qua đời. Cụ thể có thể chia trường hợp như sau:
- Thứ nhất, nếu trong trường hợp người chồng qua đời có để lại khối tài sản chung vợ chồng thì trong trường hợp này, khi người chồng qua đời thì người vợ sẽ CÓ toàn quyền quản lý tài sản đó căn cứ theo quy định tại Điều 66 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (có ghi nhận về việc giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi một bên qua đời theo như phân tích ở trên);
- Thứ hai, trong trường hợp người chồng qua đời để lại khối tài sản riêng (tức là chỉ thuộc về quyền sở hữu riêng của người chồng) thì di sản thừa kế mà người chồng sẽ được chia theo di chúc của người chồng; trong trường hợp chồng không để lại di chúc thì sẽ chia thừa kế theo pháp luật cho các đồng thừa kế. Người quản lý di sản trong trường hợp này sẽ là người được chỉ định trong di chúc của người chồng. Nếu như trong di chúc người chồng chỉ định vợ sẽ là người quản lý di sản thì người vợ sẽ ĐƯỢC toàn quyền quản lý sau khi người chồng qua đời. Còn nếu như không có chỉ định người quản lý di sản thì sẽ do những người thừa kế tự thỏa thuận với nhau để cử ra căn cứ theo quy định tại Điều 616 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và vợ sẽ KHÔNG phải là người có toàn quyền quản lý di sản.
3. Một số lưu ý quan trọng khi vợ quản lý và chia di sản:
Việc người vợ tham gia quản lý và phân chia di sản khi chồng mất không chỉ là vấn đề tình cảm gia đình mà còn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật dân sự và hôn nhân gia đình. Nếu không nắm rõ quy định, rất dễ phát sinh tranh chấp hoặc rủi ro pháp lý nghiêm trọng. Do đó, cần đặc biệt lưu ý các vấn đề sau:
3.1. Nghĩa vụ tài sản do người chết để lại:
Một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp luật thừa kế là di sản không chỉ bao gồm tài sản mà còn bao gồm cả nghĩa vụ tài sản của người chết.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, những người thừa kế (bao gồm cả người vợ) có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại. Cụ thể, Điều 658 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:
- Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;
- Tiền cấp dưỡng còn thiếu;
- Chi phí cho việc bảo quản di sản;
- Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;
- Tiền công lao động;
- Tiền bồi thường thiệt hại;
- Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước;
- Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân;
- Tiền phạt;
- Các chi phí khác.
Theo đó, người vợ không được tự ý chia hoặc sử dụng toàn bộ di sản nếu chưa thực hiện xong nghĩa vụ tài sản của người chồng đã mất. Việc phân chia di sản chỉ được thực hiện sau khi đã thanh toán các khoản nợ hợp pháp.
3.2. Thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế:
Thời hiệu là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền yêu cầu chia di sản của các đồng thừa kế. Căn cứ quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015:
- Thời hiệu yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản;
- 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế (tức là thời điểm người chồng chết).
Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
- Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.
Do đó, trong thực tế:
- Nếu người vợ đang quản lý di sản, cần xác định rõ thời điểm mở thừa kế;
- Các bên liên quan cần thực hiện quyền của mình đúng thời hạn để tránh mất quyền lợi.
3.3. Rủi ro pháp lý nếu tự ý định đoạt di sản:
Một sai lầm phổ biến trong thực tế là người vợ cho rằng mình có quyền toàn quyền đối với tài sản của chồng sau khi chồng mất, từ đó tự ý:
- Bán nhà đất;
- Tặng cho tài sản;
- Chuyển nhượng, thế chấp tài sản;
- Tự ý chia tài sản mà không có sự đồng ý của các đồng thừa kế.
Tuy nhiên, về mặt pháp lý:
- Nếu di sản chưa được chia hợp pháp thì đó là tài sản thuộc sở hữu chung của các đồng thừa kế;
- Người vợ chỉ có quyền định đoạt phần tài sản thuộc quyền của mình và không được tự ý định đoạt toàn bộ di sản.
Hệ quả pháp lý có thể xảy ra:
- Giao dịch mua bán, chuyển nhượng có thể bị tuyên vô hiệu;
- Phát sinh tranh chấp giữa các đồng thừa kế;
- Người vợ có thể phải bồi thường thiệt hại cho bên thứ ba hoặc các đồng thừa kế khác.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


