Trong thực tiễn, không phải mọi việc phân chia di sản sau khi hoàn tất đều mang tính ổn định tuyệt đối. Nhiều trường hợp, do phát sinh tình tiết mới hoặc có sai sót trong quá trình xác định người thừa kế, tài sản thừa kế, việc phân chia di sản trước đó cần được xem xét lại. Vậy, trường hợp nào pháp luật cho phép được chia thừa kế lại?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Trường hợp nào pháp luật cho phép được chia thừa kế lại?
Theo quy định, kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có quyền và các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Để đảm bảo cho việc thực hiện quyền của người thừa kế, đòi hỏi những người này phải thực hiện thủ tục thỏa thuận để phân chia di sản theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế khác mà do nguyên nhân khách quan, trong quá trình khai nhận di sản thừa kế đã bỏ sót khiến những người thừa kế này không được thực hiện quyền Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định di sản thừa kế có thể được chia lại trong các trường hợp sau đây:
a. Trường hợp xuất hiện thêm người thừa kế mới:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 662 Bộ luật Dân sự năm 2015: Trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quy định này nhằm bảo đảm sự ổn định của tài sản đã được phân chia, đồng thời vẫn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người thừa kế bị bỏ sót.
b. Trong trường hợp có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 662 Bộ luật Dân sự năm 2015: Trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quy định này nhằm khắc phục hậu quả của việc xác định sai tư cách thừa kế, đồng thời bảo đảm nguyên tắc chỉ những người có đủ điều kiện theo luật mới được hưởng di sản.
c. Trường hợp tìm thấy di chúc:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật nếu trong trường hợp người để lại di sản không có di chúc.
Tuy nhiên, để đảm bảo ý nguyện của người để lại di sản thì Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định rõ việc chia lại di sản như sau:
- Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật;
- Trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc;
- Trong thời hiệu yêu cầu chia di sản, trường hợp di sản đã chia mà tìm thấy di chúc thì phải chia lại theo di chúc nếu người thừa kế theo di chúc yêu cầu.
Như vậy, chỉ khi còn trong thời hiệu thừa kế và có yêu cầu của người thừa kế theo di chúc, việc chia lại di sản mới được thực hiện nhằm bảo đảm thực hiện đúng ý chí của người đã chết.
Lưu ý, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế được thực hiện theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
- Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.
Ngoài ra, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Như vậy: Di sản thừa kế đã phân chia có thể được chia thừa kế lại khi thuộc một trong những trường hợp nêu trên.
2. Chia thừa kế lại do di chúc bị thất lạc được thực hiện như thế nào?
Điều 659 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc phân chia di sản theo di chúc như sau:
- Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
- Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại;
- Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.
Như vậy: Trong trường hợp di chúc bị thất lạc nhưng vẫn có căn cứ xác định nội dung, việc phân chia lại di sản phải được thực hiện theo đúng ý chí của người để lại di sản. Trường hợp di chúc không xác định rõ phần di sản của từng người thừa kế thì di sản sẽ được chia đều cho những người được chỉ định, ngoại trừ khi giữa các bên có thỏa thuận khác.
Đối với trường hợp di chúc xác định việc phân chia di sản bằng hiện vật, người thừa kế sẽ được nhận hiện vật tương ứng kèm theo hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó; đồng thời phải chịu phần giá trị hao hụt (nếu có) của hiện vật tính đến thời điểm phân chia. Trường hợp hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp di chúc chỉ xác định việc phân chia di sản theo tỷ lệ trên tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này sẽ được xác định dựa trên giá trị thực tế của khối di sản còn lại tại thời điểm tiến hành phân chia.
3. Xuất hiện người thừa kế mới khi chia thừa kế lại, xử lý như thế nào?
Điều 662 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế như sau:
- Trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;
- Trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Đối chiếu với Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015:
- Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết;
- Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.
Như vậy: Trong trường hợp di sản đã được phân chia nhưng sau đó phát sinh thêm người thừa kế, pháp luật không đặt ra việc phải chia lại di sản bằng hiện vật.
Thay vào đó, những người thừa kế đã nhận tài sản có nghĩa vụ thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản mà người này đáng lẽ được hưởng tại thời điểm mở thừa kế (Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015) theo tỷ lệ phần di sản mà mỗi người đã nhận, ngoại trừ khi các bên có thỏa thuận khác.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


