Trong thực tế, không ít trường hợp người để lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nhưng thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) hoặc không có đầy đủ giấy tờ pháp lý. Vậy, chia di sản thừa kế khi chưa có sổ đỏ, đất không có giấy tờ được thực hiện như thế nào?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Chia di sản thừa kế khi chưa có sổ đỏ, đất không có giấy tờ như thế nào?
Trong thực tiễn giải quyết thừa kế, nhiều trường hợp người để lại di sản là quyền sử dụng đất nhưng thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) hoặc không có giấy tờ pháp lý đầy đủ. Điều này khiến nhiều người cho rằng đất chưa có “sổ đỏ” thì không thể chia thừa kế. Tuy nhiên, theo hướng dẫn của pháp luật và thực tiễn xét xử thì quyền sử dụng đất trong nhiều trường hợp vẫn có thể được xác định là di sản và được chia theo quy định, tùy thuộc vào tình trạng pháp lý cụ thể của thửa đất. Theo Mục II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP quy định như sau:
a. Quyền sử dụng đất có sổ đỏ hoặc có giấy tờ hợp pháp vẫn được xác định là di sản:
Theo Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đối với đất do người chết để lại mà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì quyền sử dụng đất đó đương nhiên được xác định là di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào việc có tài sản gắn liền với đất hay không.
Ngoài ra, ngay cả trong trường hợp chưa có sổ đỏ nhưng người chết có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật thì quyền sử dụng đất vẫn được coi là di sản. Điều này cho thấy pháp luật không chỉ căn cứ vào việc đã được cấp sổ đỏ hay chưa mà còn xem xét các chứng cứ pháp lý khác chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp.
b. Trường hợp đất chưa có sổ đỏ và không có giấy tờ nhưng có tài sản gắn liền với đất:
Đây là trường hợp phổ biến trong thực tế, đặc biệt với đất sử dụng lâu năm hoặc đất chưa hoàn tất thủ tục pháp lý. Theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán, cần phân biệt các tình huống cụ thể:
- Thứ nhất, đất đủ điều kiện cấp sổ đỏ nhưng chưa kịp cấp: Nếu đương sự có văn bản của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất là hợp pháp và đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận, Tòa án có thể giải quyết việc chia di sản đối với cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
- Thứ hai, đất chưa có xác nhận hợp pháp nhưng có khả năng được xem xét giao đất: Trong trường hợp chưa có văn bản xác nhận sử dụng đất hợp pháp nhưng Ủy ban nhân dân có ý kiến rằng việc sử dụng đất không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét giao quyền sử dụng đất, Tòa án vẫn có thể giải quyết chia di sản là tài sản gắn liền với đất. Đồng thời, Tòa án sẽ xác định ranh giới và tạm giao quyền sử dụng đất cho đương sự để cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận theo quy định.
- Thứ ba, đất sử dụng không hợp pháp: Nếu Ủy ban nhân dân xác nhận việc sử dụng đất là trái pháp luật và tài sản trên đất không được phép tồn tại, Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp đối với di sản là tài sản trên đất mà không xem xét quyền sử dụng đất như một phần di sản thừa kế.
c. Trường hợp đất không có giấy tờ và không có tài sản gắn liền với đất:
Đối với đất chưa có Giấy chứng nhận, không có giấy tờ về quyền sử dụng đất và cũng không có tài sản gắn liền với đất nếu phát sinh tranh chấp thì thẩm quyền giải quyết thuộc về Ủy ban nhân dân theo pháp luật đất đai thay vì Tòa án giải quyết theo thủ tục thừa kế.
2. Chưa có sổ đỏ, đất không có giấy tờ có thể chia di sản thừa kế không?
Theo khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024 quy định, người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật Đất đai 2024;
- Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;
- Trong thời hạn sử dụng đất;
- Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, tại điểm c khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai năm 2024 quy định: Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự.
Quy định mới của Luật Đất đai 2024 đã loại trừ trường hợp thừa kế khỏi yêu cầu bắt buộc phải có Giấy chứng nhận trong mọi tình huống, thể hiện sự thay đổi so với quy định trước đây tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013.
Điểm mới quan trọng của Luật Đất đai 2024 là thừa nhận việc nhận thừa kế quyền sử dụng đất không nhất thiết phải có Giấy chứng nhận trong mọi trường hợp. Điều này có nghĩa là quyền sử dụng đất vẫn có thể được xác định là di sản thừa kế ngay cả khi chưa được cấp sổ đỏ, miễn là có căn cứ chứng minh việc sử dụng đất hợp pháp hoặc đủ điều kiện được công nhận.
Đối với trường hợp người sử dụng đất lập di chúc để lại quyền sử dụng đất, các điều kiện pháp lý liên quan đến việc định đoạt tài sản cần được xem xét. Nếu di chúc được lập bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực thì thông thường người lập di chúc phải xuất trình Giấy chứng nhận để đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp của giao dịch tại cơ quan công chứng hoặc cơ quan chứng thực. Tuy nhiên, pháp luật dân sự vẫn thừa nhận các hình thức di chúc khác như di chúc bằng văn bản có người làm chứng hoặc di chúc viết tay hợp pháp. Trong các trường hợp này, người đang sử dụng đất vẫn có thể thể hiện ý chí để lại quyền sử dụng đất cho người thừa kế dù chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ, sổ hồng), miễn là di chúc đáp ứng điều kiện về chủ thể, nội dung và hình thức theo quy định.
Đối với thừa kế theo pháp luật, việc phân chia di sản được thực hiện dựa trên quy định về hàng thừa kế và quyền của người thừa kế mà không phụ thuộc vào ý chí thể hiện trước đó của người sử dụng đất.
Như vậy: Điều kiện về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không còn là yêu cầu bắt buộc trong mọi trường hợp khi nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2024. Do đó, đất chưa có sổ đỏ hoặc chưa đầy đủ giấy tờ vẫn có thể được xem xét là di sản thừa kế và ĐƯỢC tiến hành phân chia nếu đáp ứng các điều kiện pháp lý liên quan và có căn cứ chứng minh việc sử dụng đất hợp pháp.
3. Những khó khăn và rủi ro khi chia thừa kế đất không có giấy tờ:
Việc chia di sản thừa kế đối với đất chưa có sổ đỏ hoặc không có giấy tờ về quyền sử dụng đất thường phức tạp hơn nhiều so với trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận. Nguyên nhân là do tình trạng pháp lý của thửa đất chưa rõ ràng dẫn đến nhiều khó khăn trong quá trình chứng minh quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp. Người thừa kế cần nhận diện trước các rủi ro phổ biến để có phương án xử lý phù hợp.
3.1. Khó khăn trong việc chứng minh nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
Đối với đất không có giấy tờ pháp lý, việc chứng minh quyền sử dụng đất của người để lại di sản là vấn đề then chốt. Các đồng thừa kế phải cung cấp tài liệu hoặc chứng cứ thể hiện việc sử dụng đất ổn định, liên tục và hợp pháp như giấy tờ kê khai đăng ký đất đai qua các thời kỳ, biên lai nộp thuế, xác nhận của chính quyền địa phương hoặc lời khai của người làm chứng…
Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trường hợp đất được sử dụng từ lâu nhưng không lưu giữ hồ sơ hoặc giấy tờ đầy đủ, từ đó dẫn đến khó khăn trong việc chứng minh quyền sử dụng đất. Điều này có thể khiến việc xác định di sản thừa kế kéo dài, thậm chí bị từ chối nếu không đủ căn cứ pháp lý.
3.2. Nguy cơ phát sinh tranh chấp giữa các đồng thừa kế:
Đất chưa có sổ đỏ thường tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp cao hơn do quyền sử dụng đất chưa được xác lập rõ ràng bằng văn bản pháp lý chính thức. Các bên có thể xảy ra mâu thuẫn về diện tích đất thực tế, ranh giới thửa đất, nguồn gốc đất hoặc thời điểm bắt đầu sử dụng…
Ngoài ra, việc thiếu hồ sơ pháp lý rõ ràng cũng dễ dẫn đến tranh chấp về quyền hưởng di sản, đặc biệt khi có người cho rằng đất thuộc quyền sử dụng riêng hoặc là tài sản chung chưa được xác định rõ. Những tranh chấp này có thể làm kéo dài quá trình giải quyết và tăng chi phí pháp lý cho các bên.
3.3. Khó khăn trong việc xác định thẩm quyền giải quyết:
Không phải mọi trường hợp đất chưa có giấy tờ đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Trong một số trường hợp, đặc biệt khi chưa xác định được quyền sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp có thể thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính (Ủy ban nhân dân) theo pháp luật đất đai. Việc xác định sai thẩm quyền ngay từ đầu có thể dẫn đến việc hồ sơ bị trả lại hoặc kéo dài thời gian giải quyết.
Do đó trước khi yêu cầu chia di sản, cần đánh giá rõ tình trạng pháp lý của thửa đất để lựa chọn đúng cơ quan có thẩm quyền.
3.4. Rủi ro trong việc cấp Giấy chứng nhận sau khi chia thừa kế:
Ngay cả khi việc phân chia di sản đã được thống nhất hoặc được Tòa án giải quyết, người thừa kế vẫn có thể gặp khó khăn trong quá trình làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu thửa đất chưa đủ điều kiện pháp lý theo quy định đất đai. Ví dụ như đất nằm trong quy hoạch, sử dụng sai mục đích hoặc không đáp ứng điều kiện công nhận quyền sử dụng đất…
Điều này đồng nghĩa với việc việc chia thừa kế chỉ giải quyết được quan hệ dân sự giữa các đồng thừa kế nhưng chưa chắc đã đảm bảo quyền sử dụng đất được Nhà nước công nhận.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


