Tài sản đã tặng cho là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của một cá nhân hoặc tổ chức được chuyển giao cho người khác thông qua hợp đồng tặng cho theo quy định của pháp luật dân sự. Vậy, những tài sản đã tặng cho trước khi chết thì có bị chia thừa kế nữa không?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Tài sản đã tặng cho trước khi chết có bị chia thừa kế không?
Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Theo đó, di sản thừa kế được hiểu là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đã chết để lại và được chuyển giao cho những người thừa kế sau khi người đó qua đời. Việc xác định chính xác phạm vi di sản thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phân chia tài sản, do không phải mọi tài sản liên quan đến người chết đều đương nhiên trở thành di sản. Cụ thể, di sản thừa kế bao gồm:
- Tài sản riêng của người chết, tức là những tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của cá nhân trước khi qua đời, được hình thành từ nguồn tài sản riêng hoặc được xác lập theo quy định pháp luật;
- Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác, chẳng hạn như phần tài sản trong tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản đồng sở hữu. Trong trường hợp này, chỉ phần quyền tài sản thuộc về người chết mới được đưa vào khối di sản để chia thừa kế, còn phần tài sản của người đồng sở hữu khác không thuộc phạm vi di sản.
Việc phân định rõ tài sản riêng và phần tài sản trong khối tài sản chung là bước quan trọng nhằm bảo đảm việc chia thừa kế được thực hiện đúng quy định pháp luật và tránh phát sinh tranh chấp giữa các bên liên quan.
Như vậy: Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Thời điểm xác định di sản là tại thời điểm người đó qua đời (Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015). Khi một cá nhân đã thực hiện việc tặng cho tài sản cho người khác một cách hợp pháp khi còn sống, quyền sở hữu đối với tài sản đó đã được chuyển dịch sang bên được tặng cho. Vì vậy, tại thời điểm người tặng cho qua đời, tài sản này không còn nằm trong khối tài sản của họ và cũng KHÔNG được coi là di sản, những người thừa kế không có quyền yêu cầu phân chia đối với các tài sản này.
2. Đã được tặng cho tài sản, có được quyền hưởng di sản thừa kế nữa không?
Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Theo khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:
- Không có di chúc;
- Di chúc không hợp pháp;
- Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
- Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 thì những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Như vậy: Việc một cá nhân đã được tặng cho tài sản trước đó không đồng nghĩa với việc cá nhân đó mất quyền hưởng di sản thừa kế của người để lại tài sản. Quyền hưởng thừa kế được xác định dựa trên quan hệ thừa kế và điều kiện pháp lý tại thời điểm mở thừa kế, mà không phụ thuộc hoàn toàn vào việc trước đó người này đã nhận tài sản hay chưa.
Trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, di sản sẽ được chia theo pháp luật theo quy định tại Điều 650 và Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015. Khi đó, những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật, đặc biệt là hàng thừa kế thứ nhất như vợ, chồng, cha mẹ và con của người chết, vẫn có quyền hưởng phần di sản tương ứng (kể cả khi trước đây họ đã được tặng cho một tài sản riêng từ người để lại di sản).
Như vậy, việc đã nhận tài sản tặng cho trước đó không làm mất quyền thừa kế theo pháp luật, ngoại trừ khi có căn cứ pháp lý khác dẫn đến việc người đó không được hưởng di sản theo quy định.
3. Nên để thừa kế hay tặng cho tài sản luôn cho con từ khi còn sống?
Việc lựa chọn giữa tặng cho tài sản khi còn sống hay để lại thừa kế sau khi qua đời là một quyết định quan trọng, do mỗi phương thức đều mang lại những lợi ích và rủi ro pháp lý khác nhau. Quá trình lựa chọn cần cân nhắc dựa trên mục tiêu quản lý tài sản, mối quan hệ gia đình và mức độ ổn định trong việc phân chia tài sản. Cụ thể như sau:
- Thứ nhất, tặng cho tài sản khi còn sống giúp người có tài sản chủ động chuyển giao quyền sở hữu cho con cái ngay từ sớm. Điều này thường mang lại lợi ích trong trường hợp gia đình đã thống nhất việc phân chia tài sản hoặc người nhận cần sử dụng tài sản để ổn định cuộc sống, đầu tư hoặc kinh doanh. Việc tặng cho là hạn chế nguy cơ tranh chấp thừa kế sau này bởi khi quyền sở hữu đã chuyển giao hợp pháp, tài sản đó thường không còn thuộc khối di sản thừa kế. Tuy nhiên, người tặng cho cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng, do sau khi hoàn tất việc chuyển quyền, họ có thể mất quyền kiểm soát đối với tài sản. Trong thực tế, nhiều tranh chấp phát sinh khi cha mẹ tặng cho tài sản sớm nhưng mối quan hệ gia đình thay đổi hoặc người nhận tài sản không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc như mong muốn.
- Thứ hai, để lại tài sản theo thừa kế – bảo đảm quyền kiểm soát và linh hoạt trong quyết định. Việc lập di chúc để lại tài sản cho con sau khi qua đời giúp người có tài sản giữ quyền quản lý và định đoạt tài sản của mình (do di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc qua đời). Đây là phương án phù hợp khi người có tài sản muốn bảo đảm an toàn cho bản thân hoặc chưa muốn chuyển quyền sở hữu ngay lập tức. Ngoài ra, di chúc có thể được sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào giúp người lập di chúc linh hoạt điều chỉnh việc phân chia tài sản khi hoàn cảnh gia đình thay đổi. Tuy nhiên, nếu di chúc không rõ ràng hoặc không đáp ứng điều kiện pháp lý, tranh chấp thừa kế vẫn có thể phát sinh, đặc biệt trong gia đình có nhiều người thừa kế.
- Thứ ba, lựa chọn tối ưu phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tế. Việc nên tặng cho hay để lại thừa kế cần được xem xét dựa trên nhiều yếu tố như giá trị tài sản, mức độ tin tưởng giữa các thành viên gia đình, nhu cầu sử dụng tài sản của con cái và mong muốn bảo đảm cuộc sống của người có tài sản. Trong nhiều trường hợp, giải pháp kết hợp được xem là hợp lý, chẳng hạn tặng cho một phần tài sản để hỗ trợ con cái sớm ổn định, đồng thời lập di chúc đối với phần tài sản còn lại nhằm bảo đảm quyền kiểm soát lâu dài.
Do đó, việc lựa chọn phương thức nào (để thừa kế hay tặng cho tài sản) cũng cần được thực hiện đúng quy định pháp luật và nên có sự tư vấn pháp lý để hạn chế rủi ro và tránh tranh chấp phát sinh về sau.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


