Trách nhiệm của thương nhân khi hoạt động kinh doanh

Thương nhân? Trách nhiệm của thương nhân khi hoạt động kinh doanh?

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Trong xã hội hiện nay thương nhân là một nghề mà không khó để có thể nhìn ra sự đóng góp và vai trò quan trọng của họ đối với sự phát triển kinh tế của đất nước, pháp luật Việt nam có quy định thương nhân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Bên cạnh đó thương nhân phải thực hiện trách nhiệm của thương nhân khi hoạt động kinh doanh theo quy dịnh của pháp luật. Vậy cụ thể Trách nhiệm của thương nhân khi hoạt động kinh doanh ở đây là gì? Hãy theo dõi bài viết dưới đây để có thêm thông tin chi tiết.

Cơ sở pháp lý:

Luật Doanh Nghiệp 2020

Luật sư tư vấn luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài: 1900.6568

1. Thương nhân

Theo quy định tại Luật thương mại 2005 quy định thì chủ thể có thể trở thành thương nhân gồm 2 nhóm là cá nhân và tổ chức kinh tế.Việc xác định cá nhânlà ai phải căn cứ theo pháp luật dân sự; theo đó, cá nhân với tư cách là chủ thể pháp luật dân sự kể từ lúc sinh ra và chấm dứt sự tồn tại khi chết. Thương nhân người cụ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo quy định của pháp luật dân sự để thực hiện các hoạt động thương mại, đồng thời tự mình gánh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động thương mại đó. Một điểm quan trọng đó là thương nhân là cá nhân phải từ đủ mười tám tuổi trở lên và không thuộc các trường hợp pháp luật cấm kinh doanh

Như vậy một cá nhân nào đó muốn trở thành thương nhân thì các chủ thể đó phải thực hiện việc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật. Theo quy định của luật thương mại Việt Nam không trực tiếp quy định về thành lập thương nhân, mà thương nhân chỉ được thành lập thông qua thủ tục gián tiếp. Như vậy nên, tổ chức và cá nhân kinh doanh có những quy định khác nhau để xác lập tư cách thương nhân. Đối với thương nhân là tổ chức kinh tế như việc thành lập doanh nghiệp thì đăng ký tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư theo quy định của pháp luật.
Hiện nay pháp luật đã quy định chi tiết về việc thành lập doanh nghiệp và đăng ký thành lập doanh nghiệp đây được xác định là quyền của nhà đầu tư và theo đó các nhà đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nhà đầu tư phải thỏa mãn những điều kiện cụ thể theo quy định pháp luật đưa ra. Trường hợp nếu thương nhân là cá nhân hộ kinh doanh thì đăng ký tại Phòng đăng ký kinh doanh cấp huyện theo quy định. Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh theo quy định. Theo đó có thể thấy giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh là văn bản khai sinh ra chủ thể pháp luật mới là thương nhân.
Khi đăng kí doanh nghiệp thì thương nhân phải thực hiện hoạt động thương mại với tư cách là một nghề nghiệp của họ. Hoạt động thương mại với thương nhân là mối quan hệ gắn bó không thể tách rời bởi không thể gọi là thương nhân khi mà chủ thể đó không thực hiện hoạt động thương mại, thực hiện hoạt động thương mại được xem là thuộc tính cơ bản của thương nhân. Hoạt động thương mại “là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Trên thực tế trong hoạt động thương mại của thương nhân thì luôn chịu những tác động theo các yếu như tố kinh tế, chính trị, xã hội, vì thế chúng luôn ở trạng thái động theo bối cảnh xã hội. Không những thế mà đối với các cá nhân, tổ chức kinh tế được xem là thương nhân chỉ khi tiến hành hoạt động thương mại một cách độc lập, điều này có nghĩa là các chủ thể này phải tham gia vào hoạt động thương mại với tư cách là một chủ thể pháp luật độc lập. Như vậy có thể thấy sự phụ thuộc về mặt tài chính, kinh tế của các chủ thể không làm mất đi tính độc lập về mặt pháp lý của nó.  Thế nên các công ty con hay công ty liên kết trong nhóm công ty là các chủ thể pháp luật độc lập với công ty mẹ và đều là thương nhân theo pháp luật thương mại quy định cụ thể.

2. Trách nhiệm của thương nhân khi hoạt động kinh doanh

Tóm tắt câu hỏi:

Thưa Luật sư, theo quy định của Điều 7 Luật thương mại 2005: “Trường hợp chưa đăng kí kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan”. Nếu có trường hợp đáp ứng điều kiện của thương nhân nhưng chưa đăng kí thì có phải chịu trách nhiệm theo quy đinh Luật thương mại không? Ví dụ trường hợp cố tình không đăng kí chẳng hạn, Quy định như Điều 7 trên mang ý nghĩa như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Trước tiên bạn cần xác định thương nhân theo quy định của Luật thương mại 2005 trước. Để có căn cứ xác nhận bạn lưu ý “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”

Điều 7 Luật thương mại 2005 có quy định:

“Điều 7. Nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của thương nhân

Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật.”

Hiện tại, áp dụng theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014

Điều 17. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm giấy tờ khác trái với quy định của Luật này; gây chậm trễ, phiền hà, cản trở, sách nhiễu người thành lập doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

2. Ngăn cản chủ sở hữu, thành viên, cổ đông của doanh nghiệp thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

3. Hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không đăng ký hoặc tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

4. Kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và nội dung hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.

5. Kê khai khống vốn điều lệ, không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký; cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị.

6. Kinh doanh các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động.

7. Rửa tiền, lừa đảo.”

Nếu trường hợp đáp ứng đủ điều kiện thương nhân mà không đăng ký thì khi hoạt động hoặc có vấn đề pháp lý phát sinh sẽ phải chịu trách nhiệm trên hoạt động của mình. Ý nghĩa của nội dung nêu trên một mặt quy định về những trường hợp phải đăng ký kinh doanh, mặt khác khẳng định nếu thuộc trường hợp đăng ký mà không đăng ký thực hiện hoạt động trái quy định của pháp luật sẽ bị áp dụng các vi phạm hành chính về hoạt động kinh doanh mua bán hàng hóa và thuế.

Theo những quy định của luật thương mại và Luật doanh nghiệp có thể thấy giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh là văn bản khai sinh ra chủ thể pháp luật mới là thương nhân. Đăng ký kinh doanh là sự ghi nhận bằng văn bản của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về mặt pháp lí sự ra đời của thương nhân. Việc đăng kí kinh doanh tạo cơ sở pháp lí cho công tác quản lí nhà nước về kinh tế, xác nhận sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cần thiết về doanh nghiệp nhằm tạo thuận lợi cho các chủ thể tham gia quan hệ với doanh nghiệp.

Kết luận: Từ những phân tích đó có thể nói thương nhân, doanh nghiệp hay các chủ thể kinh doanh, cá nhân, hợp tác xã, hộ gia đình, hay tổ chức kinh tế khác được xác định là thương nhân cho dù có tư cách pháp nhân hay không có tư cách pháp nhân, chịu trách nhiệm hữu hạn hay vô hạn thì mục đích cơ bản cuối cùng là thực hiện các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi. Bên cạnh đó để bảm đảm sự an toàn và cân bằng trong quan hệ thương mại thì không phải chủ thể nào cũng có thể trở thành thương nhân, chỉ những chủ thể đáp ứng điều kiện nhất định về năng lực hành vi thương mại trên nền tảng năng lực hành vi dân sự, không thuộc trường hợp cấm thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật thì mới có thể trở thành thương nhân. Cách phân loại thương nhân theo các tiêu chí khác nhau nhưng tựu chung là nhằm xác định địa vị pháp lý của thương nhân trong các quan hệ kinh doanh, thương mại mà thương nhân đó tham gia.

Trên đây là thông tin chúng tôi cung cấp về nội dung ” Trách nhiệm của thương nhân khi hoạt động kinh doanh” và các thông tin pháp lý khác dựa trên quy định của pháp luật hiện hành.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo