Dẫn giải là gì? Áp giải là gì? Phân biệt áp giải và dẫn giải?

Áp giải và dẫn giải đều là biện pháp cưỡng chế cần thiết trong hoạt động tố tụng và áp dụng tùy theo đối tượng áp dụng, trường hợp cụ thể mà cơ quan nhà nước sẽ áp dụng biện pháp phù hợp, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị áp dụng. Vậy dẫn giải là gì? Áp giải là gì? Phân biệt áp giải và dẫn giải?

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Dẫn giải là gì?

– Dẫn giải được dùng trong trường hợp khi được triệu tập nhưng đối tượng được triệu tập không đến mà không có lý do chính đáng và việc họ vắng mặt gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố thì cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp áp giải đến địa điểm được yêu cầu.

– Trường hợp dẫn giải được áp dụng trong trương hợp: người có lệnh gọi của cơ quan có thẩm quyền nhưng không tự đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử.

Ví dụ: người làm chứng được dẫn giải đến làm chứng trong một vụ án

– Cơ quan ra quyết định gồm: Điều tra viên, viện kiểm sát

– Trường hợp được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát triệu tập nhưng cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc họ vắng mặt gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố.

2. Áp giải là gì?

– Áp giải được hiểu là biện pháp dẫn giải có vũ trang để buộc đối tượng đi đến một địa điểm đã định theo lệnh của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc trong trường hợp khác do pháp luật quy định.

– Áp giải được áp dụng khi người được cơ quan có thẩm quyền triệu tập nhưng không tự đến hoặc có cơ sở để nghi ngờ họ sẽ bỏ trốn, áp dụng ở đây là bị can, bị cáo và người bị kết án.

– Các trường hợp áp dụng bao gồm: điều tra viên; viện kiểm sát, công an trong trường hợp chấp hành án.

– Không được áp giải vào ban đêm

– Các trường hợp áp dụng gồm: Bị can, bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng khi nhận được lệnh triệu tập của cơ quan có thẩm quyền thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã, người bị kết án đang tại ngoại, nếu quá thời hạn mà không có mặt tại cơ quan Công an để chấp hành án thì người bị kết án sẽ bị áp giải, người bị kết án đang tại ngoại, nếu quá thời hạn mà không có mặt tại cơ quan Công an để chấp hành án thì người bị kết án sẽ bị áp giải.

Mặt khác, trong trường hợp dẫn giải hay áp giải cần phải có quyết định, trên quyết định cần phải đảm bảo những nội dung như sau:

– Phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị áp giải, dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị áp giải, dẫn giải phải có mặt và các nội dung quy định.

– Người thi hành quyết định phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản về việc áp giải, dẫn giải theo quy định

– Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.

3. Sự khác biệt giữa dẫn giải và áp giải:

* Về khái niệm:

– Áp giải có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội.

– Dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định.

* Đối tượng áp dụng:

– Dẫn giải có thể áp dụng đối với:

a) Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;

b) Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;

c) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan

– Áp giải có thể áp dụng với trường hợp:

+ Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội.

+ Người bị buộc tội gồm: Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.

Theo đó áp giải và dẫn giải trong tố tụng hình sự đều là biện pháp cưỡng chế. Áp giải được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử.

Dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định.

Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 127 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, thẩm quyền thực hiện việc áp giải, dẫn giải là  Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan đượ giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ toạ phiên toà, Hội đồng xét xử có thẩm quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải.

4. Quyết định dẫn giải, áp giải được thực hiện như thế nào?

Căn cứ Khoản 4 đến Khoản 6 của Điều 127 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015, quy định về áp giải, dẫn giải trong đó có quy định sau:

– Việc ra quyết định áp giải, quyết định dẫn giải phải được ghi rõ họ ten, ngày,  tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị áp giải, dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị áp giải, dẫn giải phải có mặt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

– Người thi hành quyết định áp giải, dẫn giải phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản về việc áp giải, dẫn giải theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

– Việc tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải do Cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức.

– Quy định về thời gian thực hiện áp giải, dẫn giải: Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.

Như vậy, việc thi hành quyết định áp giải, dẫn giải được thực hiện theo quy định tại khoản 4 đến khoản 6 Điều 127 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế áp giải, dẫn giải

Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiên hành một sô hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải.

Vai trò quyết định áp giải, quyết định dẫn giải

Theo quy định thì quyết định áp giải, quyết định dẫn giải là một loại văn bản tố tụng, do đó yêu cầu đối với loại quyết định này phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị áp giải, dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị áp giải, dẫn giải phải có mặt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để phục vụ việc khai thác và quản lý hồ sơ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Trong quá trình thực hiện việc người thi hành quyết định áp giải, dẫn giải phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bàn về việc áp giải, dẫn giải theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật Tổ tụng hình sự.

Về nguyên tắc áp giải, dẫn giải

Đối với việc áp giải, dẫn giải thực hiện theo nguyên tắc không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan. Đối với trường hợp những người già yếu khi áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải có thể gây tổn hại đến tính mạng sức khỏe của họ. Bởi điều này cũng được lý giải bởi do tính chất, đối tượng áp dụng của biện pháp áp giải, dẫn giải không nghiêm trọng như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người bị buộc tội.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo