Phá sản là gì? Khi nào một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản?

Trong môi trường kinh doanh khốc liệt, có những doanh nghiệp khẳng định được vị thế của mình trên thị trường, tuy nhiên cũng có những doanh nghiệp ở trong giai đoạn suy thoái dẫn đến phải chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp. Vậy phá sản là gì? Khi nào một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản?

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Phá sản là gì?

Doanh nghiệp theo định nghĩa tại Luật Doanh nghiệp thì một tổ chức kinh tế, tên riêng, tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận. Theo các nhà kinh tế, thì doanh nghiệp chu kỳ vòng đời bao gồm các giai đoạn như sau: Khởi nghiệp, xây dựng, tăng trưởng, trưởng thành sau trưởng thành. Giai đoạn cuối cùng của chu kỳ vòng đời doanh nghiệp bao gồm 03 khnăng thể xảy ra: Làm mới lại: Những lĩnh vực tăng trưởng mới làm tăng doanh thu lợi nhuận; Trạng thái ổn định: Duy trì trì trạng thái trưởng thành liên tục; Suy thoái: Lợi nhuận bắt đầu giảm do quản lý kém; thường o hiệu bằng dấu hiệu của doanh thu giảm chi phí tăng

Một nhà quản trị doanh nghiệp thành công phải bước chuẩn bị để đối phó với giai đoạn sau trưởng thành. Nếu nhà quản trị không đảm đương được thì tt yếu doanh nghiệp phải đi đến hồi suy thoái. Với chu kỳ vòng đời này thì thể việc suy thoái dẫn đến phá sản thể xảy ra với bất kỳ doanh nghiệpo không bước chuẩn bị đy đủ để vượt qua giai đoạn sau trưởng thành

Với đích đến suy thoái thì phá sản luôn một hin tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường, hiện hữu như một sản phẩm của quá trình cạnh tranh, chọn lọc đào thải tự nhiên của nền kinh tế thị trường, bất kể đó nền kinh tế thị trường phát triển các nước trên thế giới hay nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Phá sản một hiện tượng phát sinh từ rất sớm thực tiễn hot động thương mại. Về mặt học thuật, phá sản một thuật ngữ gây khá nhiều tranh luận về xuất xứ của nó. 

Nhiều học giả cho rằng, thuật ngữ phá sản bắt nguồn từ chữ Ruintrong tiếng Latin có nghĩa sự khánh tận

Một số nhà nghiên cứu khác cho rằng, Thuật ngữ phá sản được diễn đạt bằng từ bankruptcyhoặc banqueroutenhiều người cho rằng từ này bắt nguồn từ chữ Banca Rottatrong tiếng La cổ, trong đó banca nghĩa chiếc ghế dài, còn rotta nghĩa là bị gãy. Banca rotta nghĩa băng ghế bị gãy

Điều này sở là một tập quán thương mại, từ xa a, các thương nhân La thường hợp với nhau để xem xét các khía cạnh kinh doanh của từng nhân, trong một diễn đàn gọi đại hội thương gia; người nào không trả được nợ thường bị bắt làm lệ, đồng thời mất luôn quyền tham gia đại hội. Chiếc ghế của người vỡ nợ, theo đó, sẽ bị đem ra khỏi hội trường. vậy, người La khi xưa mới dùng thuật ngữ bóng bẩy chiếc ghế bgãyđể ám chỉ người phá sảnvà không còn quyền lợi , hay người mất vị thế trong các đại hội thương gia

Theo Từ điển tiếng Việt định nghĩa từ phá sảnlâm vào tình trạng tài sản không còn thường vỡ nợ do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại; vỡ nợlâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản vẫn không đủ để trả nợ. Do đó, thể hiểu, khái niệm phá sản để chỉ cho một sự việc đã xảy ra rồi, sự việc bị thua lỗ phải bán hết tài sản vẫn không đủ trả nợ

Theo Từ điển Luật học định nghĩa psản tình trng một chủ thể (nhân, pháp nhân) mất khả năng thanh toán nđến hạn. Theo cách hiểu này, khái niệm phá sản xác định một chủ thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Nói cách khác, phá sảnđược hiểu tương đương với mất khả năng thanh toán

Theo Điều 864 của Bộ luật Thương mại năm 1972 của Việt Nam Cộng hòa Thương gia ngưng trnthể, đương nhiên hoặc theo đơn xin của trái chủ, bị toà tuyên án khánh tận. Điều 1008 Bộ luật Thương mại năm 1972 quy định Những thương gia trong tình trạng khánh tận hay thanh toán pháp sẽ bị truy tố về tội phá sản đơn thường hay phá sản gian trá tùy theo các trường hợp được dự liệu tại các điều kế tiếp. Theo quy định này thể hiểu khánh tận tình trạng một thương gia đã ngưng trả nợđược hiểu tượng đương như khái niệm mất khả năng thanh toán. Trong khi đó, khái niệm phá sảnđược hiểu rằng đây một loại tội phạm

Trong tiếng Anh, khái niệm phá sản mất khng thanh toán được diễn đạt dưới những thuật ngữ bankruptcy, insolvency. Hai thuật ngữ này khi được sử dụng như là những từ đồng nghĩa. tác giả cho rằng, insolvency khái niệm liên quan đến tình trạng tài chính, trong khi đó bankruptcy lại khái niệm thuần tuý pháp

Hoa Kỳ, thuật ngữ bankruptcy được sử dụng cho cả thủ tục phá sản áp dụng cho nhân hoặc doanh nghiệp. Ttrong pháp luật của Anh, bankruptcy để chỉ cho thủ tục phá sản nhân n đối với phá sản các Công ty thì thuật ngữ được sử dụng insolvency

Trong pháp luật Việt Nam, cả Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 Luật Phá sản năm 2004 đều không đưa ra định nghĩa về phá sản sử dụng khái niệm lâm vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn

Luật Phá sản năm 2014 đã đưa ra một định nghĩa pháp về phá sản, theo đó, Psản tình trạng của doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán bị TAND ra quyết định tuyên bphá sản. Khái niệm này đã tiếp cận phá sản dưới góc độ một quyết định của tòa án chứ không phải quá trình (thủ tục) ban hành ra quyết định đó

Như vậy, từ các phân tích trên đây thể thấy về mặt pháp , khái niệm phá sảnthể được hiểu theo hai khía cạnh sau đây

Một , phá sản tình trạng một tổ chức kinh doanh bị mất khả năng thanh toán bị quan nnước (thông thường là tòa án) ra quyết định tuyên bố phá sản. Hậu quả của quyết định này sự chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp

Hai , phá sản thủ tục pháp liên quan đến một tổ chức kinh doanh để giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức đó. Thủ tục pháp này được quy định bởi pháp luật, được tiến hành từ khi dấu hiệu tổ chức kinh doanh đó lâm o tình trạng mất khả năng thanh toán quá trình giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán thể đưa đến những hệ quả khác nhau phục hồi tổ chức kinh doanh hoặc thanh tài sản chấm dứt hoạt động của tổ chức kinh doanh

Căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 4 Luật phá sản 2014: Phá sản được coi là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản. Như vậy, một doanh nghiệp phá sản phải đủ hai yếu tố sau:

Thứ nhất: Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán (khoản 1, Điều 4 Luật phá sản 2014)

Thứ hai: Phải có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án. Doanh nghiệp không thể tự tuyên bố phá sản mà phải thực hiện các thủ tục phá sản để Tòa án có thẩm quyền ra quyết định.

Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán mà Tòa án nhân dân chưa ra quyết định tuyên bố phá sản thì không được xem là đã phá sản.

2. Khái niệm thủ tục phá sản: 

Theo tđiển tiếng Việt, thủ tục những việc cụ thể phải m theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc tính chất chính thức. Theo Nguyễn Văn Thâm và Kim Sơn, thủ tục nghĩa phương thức hay cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất đnh. Do đó thể hiểu, thủ tục phá sản trình tự, cách thức để tiến hành giải quyết việc phá sn theo quy định pháp luật

Phá sản một hiện tượng tính khách quan, mang tính quy luật trong nền kinh tế thị trường. Khi xảy ra tình trạng phá sản, Nhà nước phải tham gia giải quyết việc phá sản, cơ quan nào đứng ra giải quyết việc phá sản này thì do Nhà nước quy định

Hầu hết các nước LPS, thủ tục phá sản đối với các DN mất khả năng thantoán được tiến hành bởi tòa án, Việt Nam cũng quy đnh do Tòa án tiến hành. Trong các tài liệu khoa học pháp hiện nay ca Việt Nam đều cho rằng, thủ tục phá sản là thủ tục pháp bởi được tiến hành bởi tòa án

Theo giáo trình Luật Kinh tế của Trường Đại học Luật Nội xuất bản năm 2000 thì thủ tục phá sản một thtục thuần y pháp, do tòa án thẩm quyền tiến hành theo những quy định chặt chẽ của pháp luật phá sản. Quan niệm thủ tục phá sản thủ tục thuần túy pháp không hoàn toàn chính xác, bởi lẽ thủ tục pháp chính thủ tục thực hiện quyền pháp, một trong ba nhánh quyền lực. Quyền pháp quyền xét xử vậy, thủ tục pháp thuần túy thủ tục xét xử các vụ án hình sự, dân sự hành chính. lẽ do này trong giáo trình Luật Thương mại cũng của chính Trường Đại học Luật Nội xuất bản sáu m sau chỉ giữ lại quan điểm thủ tục phá sản thtục pháp không còn cụm từ thuần túy nữa hướng giải cho quan điểm thủ tục phá sản thủ tục pháp của các tác giả giáo trình này hoạt đng do quan nhà nước duy nhất tòa án thẩm quyền tiến hành theo những quy định chặt chẽ của pháp luật phá sản. Cũng theo cách giải tương tự, sách Luật Kinh tế Việt Nam do Minh Toàn chủ biên cũng cho rằng thủ tục phá sản do quan thẩm quyền duy nhất tòa án vậy về bản thủ tục phá sản một thủ tục được diễn ra theo một trình tự pháp. Tác giả này nhấn mạnh rằng đáng lưu ý thủ tục phá sản thủ tục pháp đặc biệt phá sản DN về bản chất không phải một vụ án do đó không được thụ để xét xử như một vụ án thông thường

Trong trường hợp phá sản một số tổ chức đặc biệt, trong đó tổ chức tín dụng, thì tại một số nước, Tòa án không được giao để giải quyết vụ việc phá sản. Vậy liệu rằng thủ tục phá sản còn thủ tục pháp hay không? Chúng tôi cho rằng, không thể xem thủ tục phá sản là thủ tục pháp nếu quan tiến hành thủ tục này không phải tòa án. Điển hình cho quốc gia không thực hiện việc phá sản 

ngân hàng thương mại theo thtục pháp Hoa Kỳ Canada. Tại các quốc gia này, thủ tục phá sản ngân hàng thương mại được tiến hành bởi quan bảo hiểm tiền gửi thủ tục nh chính

Một quốc gia điển hình cho việc hành chính hóa thủ tục phá sản ngân hàng tơng mại Anh. Cho đến trước năm 2009, việc giải quyết phá sản các ngân hàng Anh đều chỉ tuân thủ theo Luật Phá sản năm 1986 người Anh quan niệm rằng phá sản thủ tục pháp nhằm xét xử hành vi của người bị phá sản. Tuy vậy, sau cuộc khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ châu Âu năm 2008, nước Anh đã bổ sung chế độ giải quyết đặc biệt đối với các ngân hàng mất khả năng thanh toán. Chế độ này được thực hiện với vai trò quan trọng của quan quản ngành ngân hàng và thực hiện theo thủ tục hành chính. Chỉ khi thủ tục áp dụng chế độ đặc biệt (SRR) không thành công thì mới chuyển sang thủ tục thanh ti tòa án

Theo phân tích trên, thì thủ tục phá sản, theo pháp luật một số quốc gia bắt đầu từ thủ tục hành chính (xem xét tình trạng mất khả năng thanh toán) trước rồi sau đó mới đến Tòa án thụ giải quyết, quốc gia thì do Tòa án thụ giải quyết từ khi mất khả năng thanh toán. Do đó, theo tác giả thì đây chính một thủ tục pháp đặc biệt

Tóm lại, thủ tục phá sản thể được định nghĩa khái quát thủ tục pháp đặc biệt quy định trình tự, cách thức, phương thức để giải quyết việc phá sản theo quy định pháp luật.

3. Các trường hợp tuyên bố phá sản doanh nghiệp:

Thứ nhất, căn cứ theo quy định tại Điều 105 Luật phá sản 2014 thì doanh nghiệp bị tòa án tuyên bố phá sản theo thủ tục rút gọn. Khi người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 5 của Luật này mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản và sau khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán không còn tài sản để thanh toán chi phí phá sản.

Thứ hai, Tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản là khi không thể tiến hành hội nghị chủ nợ. Căn cứ theo quy định tại Điều 106. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả họp Hội nghị chủ nợ, Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 80, khoản 4 Điều 83 và khoản 7 Điều 91 của Luật Phá sản.

Tức là khi Hội nghị chủ nợ bị hoãn mà Tòa án đã triệu tập lại theo thời gian của luật định mà vẫn không thể tổ chức laị Hội nghị chủ nợ thì lúc đó Tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản. Hoặc khi Hội nghị chủ nợ không thông qua được Nghị quyết, khi không đảm bảo có quá nửa tổng số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm có mặt biểu quyết tán thành. Hoặc khi Hội nghị chủ nợ không thông qua được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh khi không đảm bảo được có quá nửa tổng số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm biểu quyết tán thành.

Thứ ba, trường hợp tuyên bố doanh nghiệp phá sản sau khi có Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ:

Căn cứ theo Điều 107 Luật phá sản 2014 quy định về quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản sau khi có Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ:

– Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được nghị quyết của Hội nghị chủ nợ đề nghị tuyên bố phá sản theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 83 của Luật phá sản thì Tòa án nhân dân xem xét quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.

– Sau khi Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết có nội dung áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh nhưng thuộc một trong các trường hợp dưới đây thì Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản:

– Khi Hội nghị chủ nợ đề nghị Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản mà không cần thông qua thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

– Khi doanh nghiệp không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết có nội dung áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh.

– Khi hội nghị chủ nợ không đồng tình, không thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp.

– Doanh nghiệp không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. Tức là doanh nghiệp không đảm bảo các điều kiện để tiến hành thực hiện các phương án phục hồi hoạt động doanh nghiệp mà họ đã xây dựng.

Vậy doanh nghiệp sẽ bị Tòa án tuyên bố phá sản khi thuộc một trong các trường hợp được nêu như trên.

4. Trình tự, thủ tục tuyên bố doanh nghiệp phá sản:

Bước 1: Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Để tiến hành thủ tục phá sản doanh nghiệp, các chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cùng các tài liệu và chứng cứ kèm theo. Theo đó, những chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bao gồm các chủ nợ, người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở,… khi họ không nhận được thanh toán và có đủ các điều kiện theo luật định. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có thể nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền hoặc gửi đến Tòa án nhân dân qua đường bưu điện.

Bước 2: Tòa án nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Sau khi Tòa án nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nếu đơn hợp lệ thì Tòa án thông báo để nộp lệ phí, tiền tạm ứng phí phá sản.

Nếu đơn chưa hợp lệ thì Tòa án yêu cầu nộp sửa đổi, bổ sung.

Nếu xét thấy người nộp đơn không có quyền nộp đơn hoặc người nộp đơn từ chối sửa đổi đơn thì Tòa án tiến hành trả lại đơn yêu cầu.

Bước 3: Tòa án thụ lý đơn và ra quyết định mở thủ tục phá sản

Khi đủ các điều kiện thụ lý thì Tòa án sẽ thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản.

Thẩm phán sẽ tiến hành chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh toán tài sản.

Các chủ thể có thẩm quyền sẽ tiến hành xác định các giá trị nghĩa vụ về tài sản, xác định tiền lãi đối với khoản nợ, xử lý khoản nợ có bảo đảm, trả lại tài sản thuê mượn.

Bước 4: Triệu tập Hội nghị chủ nợ

Thẩm phán sẽ tiến hành triệu tập và gửi thông báo triệu tập hội nghị chủ nợ. Hội nghị chủ nợ thảo luận về các nội dung do Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đã thông báo và ý kiến của những người tham gia Hội nghị chủ nợ. Hội nghị chủ nợ có quyền đưa ra nghị quyết về việc đề nghị đình chỉ giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản; đề nghị áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp hoặc đề nghị tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Dựa trên nghị quyết của Hội nghị chủ nợ, Tòa án nhân dân có thể đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản. Trong trường hợp Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết có nội dung áp dụng thủ tục phục hồi kinh doanh thì doanh nghiệp phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh và gửi cho thẩm quán, chủ nợ,… Hội nghị chủ nợ sẽ tiến hành thông qua phương án phục hồi kinh doanh và được Tòa án ra quyết định công nhận nghị quyết thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. Sau đó, doanh nghiệp sẽ thực hiện theo phương án phục hồi kinh doanh, dưới sự giám sát của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, chủ nợ.

Bước 5: Ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản

Trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện được phương án phục hồi kinh doanh hoặc hết thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp vẫn mất khả năng thanh toán thì Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

5. Thẩm quyền giải quyết phá sản:

Phạm vi giải quyết phá sản của Luật phá sản năm 2014 đã có sự mở rộng hơn so với Luật phá sản năm 2004. Theo đó, căn cứ theo Điều 8 Luật phá sản năm 2014 quy định về thẩm quyền giải quyết phá sản như sau:

– Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó và thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài;

+ Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;

+ Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở thuộc nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;

+ Vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc.

– Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc trường hợp quy định trên.

Các văn bản pháp luật có liên quan đến bài viết:

– Luật phá sản năm 2014

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo