Skip to content
 1900.6568

Trụ sở chính: Số 89, phố Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội

  • DMCA.com Protection Status
Home

  • Trang chủ
  • Về Luật Dương Gia
  • Lãnh đạo công ty
  • Đội ngũ Luật sư
  • Chi nhánh 3 miền
    • Trụ sở chính tại Hà Nội
    • Chi nhánh tại Đà Nẵng
    • Chi nhánh tại TPHCM
  • Pháp luật
    • Pháp luật hình sự
    • Pháp luật hôn nhân
    • Pháp luật thừa kế
    • Luật cho người nước ngoài
  • Văn bản
  • Giáo dục
  • Bạn cần biết
  • Liên hệ Luật sư
    • Luật sư gọi lại tư vấn
    • Chat Zalo
    • Chat Facebook

Home

Đóng thanh tìm kiếm

  • Trang chủ
  • Đặt câu hỏi
  • Đặt lịch hẹn
  • Gửi báo giá
  • 1900.6568
Trang chủ Pháp luật

Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm

  • 21/10/202121/10/2021
  • bởi Luật sư Nguyễn Văn Dương
  • Luật sư Nguyễn Văn Dương
    21/10/2021
    Theo dõi chúng tôi trên Google News

    Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm? Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm?

      Trong khi xã hội ngày một trở nên phát triển thì việc mà các cá nhân tham gia vào việc giao kết các hợp đồng bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình lao động hay các phúc lợi khi về già mà hợp đồng bảo hiểm đem lại cho bản thân mình. Bên cạnh việc tham gia hợp đồng bảo hiểm để tránh được các rủi ro về người thì hợp đồng bảo hiểm cũng giúp các chủ thể tham gia tránh được các vấn đề rủi ro đối với tài sản của mình. Tuy nhiên, lợi ích nhận được từ bảo hiểm là như vậy những vị một số lý do nào đó mà các bên tham gia bảo hiển và bên bán bảo hiểm lại thực hiện hành vi chấm dứt hợp đồng lao động. Vậy hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm được pháp luật hiện hánh quy định có nội dung như thế nào? Trong nội dung bài viết dưới đây, Luật Dương Gia sẽ gửi đến quý bạn đọc nội dung này như sau:

      Tư vấn luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài điện thoại: 1900.6568

      Cơ sở pháp lý:

      – Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000

      – Văn bản hợp nhất 06/VBHN-VPQH năm 2019 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành

      1. Khái quát chung về hợp đồng bảo hiểm

      Trước khi đi sâu vào tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hay việc chấp dứt hợp đồng bảo hiểm và hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Thì trong nội dung mục 1 này tác giả sẽ gửi đến quý bạn đọc các nội dung liên quan đến kinh doanh bảo hiểm là gì? Hợp đồng bảo hiểm là gì?

      Do đó, kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

      Trên cơ sở quy định tại Điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 và quy định tại Văn bản hợp nhất 06/VBHN-VPQH năm 2019 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành thì: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.

      Như vậy, hợp đồng bảo hiểm được xác lập trên cơ sở tự nguyện giữa các bên là bên mua bảo hiểm và bên doanh nghiệp bảo hiểm. Khi một trong các bên vi phạm một trong số những điều khoản trong hợp đồng hoặc vì một lý do mà không thể ký kết tiếp hợp đồng thì có thể chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, việc chấm dứt hợp đồng sẽ tùy từng trường hợp mà có hậu quả pháp lý nhất định đối với trường hợp đó.

      Hợp đồng bảo hiểm được định nghĩa dưới góc độ pháp lý của luật bảo hiểm này có khác biệt rất lớn so với định nghĩa về hợp đồng bảo hiểm được quy định tại Điều 567 Bộ luật dân sự: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên mua bảo hiểm phả đóng phí bảo hiểm, còn bên bảo hiểm phải trả một khoản tiền bảo hiểm cho bên bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.

      Theo các định nghĩa vừa được nêu ra ở trên thì có thể thấy rằng sự mâu thuẫn trong quan điểm về đối tượng được nhận tiền bảo hiểm, trong luật kinh doanh bảo hiểm đối tượng được nhận tiền bảo hiểm là người thụ hưởng hoặc người được bảo hiểm. Bộ luật dân sự không quy định về người hưởng thụ mà chỉ quy định về bên được bảo hiểm và trong luật cũng không làm rõ hơn về khái niệm bên được bảo hiểm.

      Suy cho cùng thì một hợp đồng bảo hiểm dưới góc độ pháp lý được định nghĩa là một văn bản pháp lý được ký kết do người bảo hiểm và người được bảo hiểm. Trong hợp đồng bảo hiểm này doanh nghiệp bán bảo hiểm cam kết bồi thường cho người mua bảo hiểm những tổn thất của đối tượng bảo hiểm do những rủi ro được bảo hiểm gây ra còn người được bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm.

      2. Hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm

      Trong bất kỳ một quá trình giao kết hợp đồng của các giao dịch dân sự thông thương hay là các giao kết hợp đồng liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm theo như quy định của pháp luật bảo hiểm thì các bên trong hợp đồng này cũng có quyền được chấm dứt hợp đồng giống như các hợp đồng được giao kết khác trong quy định của pháp luật hiện hành. Bởi lẽ tác giả đưa ra được nhận định này là do, hợp đồng bảo hiểm cũng được biết đến là một trong các dạng hợp đồng dân sự nên cũng có các tính chất và hoạt động tương tự nhau.

      Đối với một hợp đồng dân sự sau khi bị xác định là chấm dứt thì sẽ để lại các hậu quả pháp lý mà được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, do đó, đối với hợp đồng bảo hiểm cũng được quy định về hậu quả pháp lý khi hợp đồng này chấm dứt. Và cụ thể, việc này được quy định theo quy định tại Điều 24  Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000. Đồng thời, sau khi tiến hành sửa đổi và hợp nhất một số nội dung và quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm và cũng được quy định trong văn bản hợp nhất 06/VBHN-VPQH năm 2019 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành cũng kế thừa những quy định về hậu quả pháp lý của việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm của  Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, đó là:

      Thứ nhất, Theo như quy định tại Khoản 1 Điều 24 Luật kinh doanh bảo hiểm đã quy định về việc doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại phí bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm theo như quy định củ pháp luật tại một số trường hợp cụ thể và việc này được quy định với nội dung đó là:

      “1. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại phí bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm tương ứng với thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm”.

      Từ quy định này thì để đảm bảo quyền lợi của bên tham gia bảo hiểm khi bị doanh và bên kinh doanh bảo hiểm thì nếu trong thường hợp mà bên tham gia bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm hay không thực hiện việc đóng hoặc đóng không đủ tiền phí bảo hiểm theo như quy định của pháp luật bảo hiểm về thời gian đóng bảo hiểm và mức phí phải đóng thì hợp đồng bảo hiểm sẽ bị chấm dấn theo như quy định của pháp luật Dân sự này và pháp luật bảo hiểm hiện hành.

      Việc đảm bảo quyền của bên mua bảo hiểm được xác định bằng việc pháp luật quy định về vấn đề doanh nghiệp bán bảo hiểm phải thực hiện việc tiến hành hòn trả chi phí bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đã đóng trước đó sau khi trừ hết tất cả các khoản phí theo như quy định của pháp luật hiện hành.

      Thứ hai, theo như quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật này thì hậu quả pháp lý khi chấm dứt hợp đồng được ghi nhận tại pháp luật này đó là: “2. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này, bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con người”. Như vậy có thể thấy rằng pháp luật quy định về việc giữ các bên trong hợp đồng được thực hiện việc chấm dứt hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm theo như quy định của pháp luật hiện hành mà không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc người mua bảo hiểm khi tham gia vào hợp đồng bảo hiểm này mà lại không thực hiện hoạt động đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm giữ các bên đã thỏa thuận trước đó.

      Tuy nhiên, tại quy định này thì những hợp đồng bảo hiểm đó bị chấm dứt tại một thời điểm nhất định những cũng phải được bên mua bảo hiểm đóng hết tiền phí mua bảo hiểm trong khoảng thời gian mà hợp đồng chưa được xác nhận là chấm dứt trước đó theo đung như quy định của hợp đồng và theo như quy định của pháp luật Dân sự nói chung về hợp đồng và pháp luật bảo hiểm nói riêng.

      Thứ ba, theo như quy định tại Khoản 3 Điều 24 Luật này thì pháp luật đã quy định về việc cả hai bên khi tham gia vào ván đề giao kết hợp đồng bảo hiểm đều phải chịu sự chi phới của quá trình chấm dứt hợp đồng bảo hiểm những dẫn phải thực hiện các hậu quả pháp lý của hợp đồng này để lại trước thời hạn mà hợp bị chấm dứt theo ý chí của các bên và theo như quy định của pháp luật. diều này cụ thể:

      “3. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời gian gia hạn đóng phí; bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng phí bảo hiểm cho đến hết thời gian gia hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con người”.

      Theo như quy định này thì có thể hiểu đơn giản về hậu quả pháp lý được quy định sau khi thực hiện việc chấm dứt hợp đồng lao động đó là khi mà bên mua bảo hiểm và bên bán bảo hiểm đã thỏa thuận với nhau về mức phí đóng bảo hiểm và thời gian đóng bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm và đến đống không thực hiện được hoạt động đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian đóng phí thỏa thuận và cả thời gia hạn đóng phí bảo hiểm theo như quy định của pháp luật hiện hành.

      Hậu quả pháp lý cuối cùng được nhắc đến trong khoản 4 Điều 24 Luật này về việc các bên tham gia vào hợp đồng bảo hiểm thực hiện việc chấm dứt hợp đồng khi thuộc một trong số các trường hợp khác đã được quy định trong quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan hiện hành.

      Duong Gia Facebook Duong Gia Tiktok Duong Gia Youtube Duong Gia Google

        Liên hệ với Luật sư để được hỗ trợ:

      • Zalo   Tư vấn pháp luật qua Zalo
         Tư vấn nhanh với Luật sư
      -
      CÙNG CHUYÊN MỤC
      • Con nuôi của người dân tộc thiểu số có được cộng điểm?
      • Quấy rối tình dục bằng lời nói, cử chỉ bị xử lý như thế nào?
      • Mức trợ cấp một lần khi suy giảm khả năng lao động
      • Con phạm tội hành hạ cha mẹ được hưởng thừa kế không?
      • Nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc Công an tỉnh, thành phố
      • Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là gì? Ý nghĩa phân cấp?
      • Lệ phí trước bạ nhà đất là gì? Lệ phí trước bạ nhà đất ai trả?
      • Mẫu giấy biên nhận tiền bằng tiếng Anh, song ngữ Anh – Việt
      • Quy trình giám định pháp y tâm thần? Phải giám định ở đâu?
      • Thủ tục cấp phép tổ chức đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ tin học
      • Hệ thống pháp luật quốc tế là gì? Pháp luật quốc tế bao gồm?
      • Kinh nghiệm quản lý đất đai, bất động sản ở một số nước
      BÀI VIẾT MỚI NHẤT
      • So sánh giữa di chúc miệng với di chúc bằng văn bản
      • Các trường hợp di chúc miệng vô hiệu hay gặp trên thực tế
      • Thủ tục tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng
      • Nên lập di chúc ở Văn phòng công chứng hay tại UBND?
      • Các lý do thường khiến hồ sơ xin thẻ tạm trú bị từ chối?
      • Các lỗi thường gặp khiến hồ sơ xin thẻ tạm trú bị từ chối
      • Phân biệt giữa thẻ tạm trú (TRC) và thẻ thường trú (PRC)
      • Thủ tục hủy thẻ tạm trú khi chấm dứt hợp đồng lao động
      • Dịch vụ tư vấn Visa, VNEID, mã số định danh cho Việt kiều
      • Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo lãnh xin cấp thẻ tạm trú
      • Thủ tục xin cấp thẻ tạm trú du học cho người nước ngoài
      • Kết hôn với người Việt Nam có được cấp thẻ tạm trú không?
      LIÊN KẾT NỘI BỘ
      • Tư vấn pháp luật
      • Tư vấn luật tại TPHCM
      • Tư vấn luật tại Hà Nội
      • Tư vấn luật tại Đà Nẵng
      • Tư vấn pháp luật qua Email
      • Tư vấn pháp luật qua Zalo
      • Tư vấn luật qua Facebook
      • Tư vấn luật ly hôn
      • Tư vấn luật giao thông
      • Tư vấn luật hành chính
      • Tư vấn pháp luật hình sự
      • Tư vấn luật nghĩa vụ quân sự
      • Tư vấn pháp luật thuế
      • Tư vấn pháp luật đấu thầu
      • Tư vấn luật hôn nhân gia đình
      • Tư vấn pháp luật lao động
      • Tư vấn pháp luật dân sự
      • Tư vấn pháp luật đất đai
      • Tư vấn luật doanh nghiệp
      • Tư vấn pháp luật thừa kế
      • Tư vấn pháp luật xây dựng
      • Tư vấn luật bảo hiểm y tế
      • Tư vấn pháp luật đầu tư
      • Tư vấn luật bảo hiểm xã hội
      • Tư vấn luật sở hữu trí tuệ
      LIÊN KẾT NỘI BỘ
      • Tư vấn pháp luật
      • Tư vấn luật tại TPHCM
      • Tư vấn luật tại Hà Nội
      • Tư vấn luật tại Đà Nẵng
      • Tư vấn pháp luật qua Email
      • Tư vấn pháp luật qua Zalo
      • Tư vấn luật qua Facebook
      • Tư vấn luật ly hôn
      • Tư vấn luật giao thông
      • Tư vấn luật hành chính
      • Tư vấn pháp luật hình sự
      • Tư vấn luật nghĩa vụ quân sự
      • Tư vấn pháp luật thuế
      • Tư vấn pháp luật đấu thầu
      • Tư vấn luật hôn nhân gia đình
      • Tư vấn pháp luật lao động
      • Tư vấn pháp luật dân sự
      • Tư vấn pháp luật đất đai
      • Tư vấn luật doanh nghiệp
      • Tư vấn pháp luật thừa kế
      • Tư vấn pháp luật xây dựng
      • Tư vấn luật bảo hiểm y tế
      • Tư vấn pháp luật đầu tư
      • Tư vấn luật bảo hiểm xã hội
      • Tư vấn luật sở hữu trí tuệ
      Dịch vụ luật sư uy tín toàn quốc


      Tìm kiếm

      Duong Gia Logo

      • Zalo   Tư vấn pháp luật qua Zalo
         Tư vấn nhanh với Luật sư

      VĂN PHÒNG MIỀN BẮC:

      Địa chỉ: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội, Việt Nam

       Điện thoại: 1900.6568

       Email: dichvu@luatduonggia.vn

      VĂN PHÒNG MIỀN TRUNG:

      Địa chỉ: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam

       Điện thoại: 1900.6568

       Email: danang@luatduonggia.vn

      VĂN PHÒNG MIỀN NAM:

      Địa chỉ: 227 Nguyễn Thái Bình, phường Tân Sơn Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

       Điện thoại: 1900.6568

        Email: luatsu@luatduonggia.vn

      Bản quyền thuộc về Luật Dương Gia | Nghiêm cấm tái bản khi chưa được sự đồng ý bằng văn bản!

      Chính sách quyền riêng tư của Luật Dương Gia

      • Chatzalo Chat Zalo
      • Chat Facebook Chat Facebook
      • Chỉ đường picachu Chỉ đường
      • location Đặt câu hỏi
      • gọi ngay
        1900.6568
      • Chat Zalo
      Chỉ đường
      Trụ sở chính tại Hà NộiTrụ sở chính tại Hà Nội
      Văn phòng tại Đà NẵngVăn phòng tại Đà Nẵng
      Văn phòng tại TPHCMVăn phòng tại TPHCM
      Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
      • Gọi ngay
      • Chỉ đường

        • HÀ NỘI
        • ĐÀ NẴNG
        • TP.HCM
      • Đặt câu hỏi
      • Trang chủ