Giải pháp đảm bảo thực hiện cam kết về lao động theo Hiệp định CPTPP và EVFTA

Giải pháp đảm bảo thực hiện cam kết về lao động theo Hiệp định CPTPP và EVFTA: xóa bỏ lao động trẻ em; xóa bỏ lao động cưỡng bức; xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động; tự do liên kết và thương lượng tập thể.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tiêu chuẩn lao động quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em:

Như đã phân tích, thực trạng sử dụng lao động trẻ em trái pháp luật Việt Nam vẫn còn phổ biến nhiều địa phương đặc biệt phổ biến khu vực kinh tế phi chính thức. Để ngăn chặn xóa bỏ lao động trẻ em nhằm bảo đảm thực hiện phù hợp tiêu chuẩn xóa bỏ lao động trẻ em của ILO được viện dẫn bởi Hiệp định CPTPP EVFTA, Việt Nam cần nhanh chóng thực hiện các giải pháp sau đây

1.1. Nâng cao nhận thức của trẻ em, gia đình, cộng đồng, xã hội và doanh nghiệp về xóa bỏ lao động trẻ em:

Thứ nhất, thực hiện các biện pháp tuyên truyền, phổ biến giáo dục nâng cao nhận thức của gia đình, cộng đồng, hội doanh nghiệp đối với pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em, xóa bỏ lao động trẻ em. Bên cạnh đó, cần tăng cường hiểu biết ý thức của hội về những hệ lụy của việc tuyển dụng sử dụng lao động trẻ em trái pháp luật góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ vấn nạn này. Nên nhân rộng khuyến khích thành các phong trào, trào lưu nói không với lao động trẻ em trái pháp luật. Công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của cộng đồng về xóa bỏ lao động trẻ em cần được quan tâm, chú trọng các địa bàn nghèo, khu tập trung dân với mặt bằng dân trí thấp, đặc biệt tại khu vực kinh tế phi chính thức

Bên cạnh đó, cần tăng cường truyền thông về các giải pháp phòng ngừa, xóa bỏ lao động trẻ em. Thu hút sự tham gia của nhân, doanh nghiệp các tổ chức hội trong công tác phát giác thông tin cho quan chức năng về hành vi sử dụng lao động trẻ em trái pháp luật để kịp thời xử , ngăn ngừa, khắc phục hậu quả

Thứ hai, nâng cao giáo dục trẻ em. Thực hiện công tác giáo dục trẻ em đưa trẻ em đến trường, thay đến công trường, nhà máy, nơi làm việc. Để thực hiện tốt việc này thì rất cần thiết phải triển khai song song nhiều biện pháp, cách thức linh hoạt sau đây

(1) Bảo đảm phổ cập giáo dục đến cấp trung học sở

(ii) Tăng cường các chính sách miễn, giảm học phí

(iii) Đối với những trẻ em lao động thì có thể áp dụng những giải pháp: vừa làm vừa học hoặc thay thế những hình thức đào tạo chính quy bằng các hình thức đào tạo không chính quy, đào tạo, bồi dưỡng nghề cho trẻ em

1.2. Thực hiện hiệu quả các chính sách xóa đói, giảm nghèo:

Trong nhiều năm nay, công tác xóa đói, giảm nghèo đã đang được Đảng, Nhà nước các địa phương tích cực thực hiện đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Làm tốt công tác xóa đói, giảm nghèo góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực cho đời sống nhận thức của các tầng lớp nhân dân đói nghèo. Khi thu nhập của người dân nghèo tăng lên, khả năng tiếp cận các dịch vụ hội bản cho người nghèo cũng từ đó được nâng cao. Điều này sẽ nâng tầm nhận thức cũng như thay đổi, giảm bớt nhu cầu về việc để trẻ em tham gia lao động của các hộ gia đình

1.3. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng lao động trẻ em:

Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc sử dụng lao động trẻ em phải được tổ chức thực hiện thường xuyên, liên tục sát sao xuống tận địa bàn sở. Tránh tình trạng, kết quả thanh kiểm tra của quan chức năng, chính quyền địa phương thanh tra lao động cấp trên chỉ dựa trên các báo cáo từ dưới sở đưa lên hoặc báo cáo liên ngành

Đối với khu vực kinh tế phi chính thức, cần đặc biệt chú trọng tăng cường công tác thanh kiểm tra sát sở hơn nữa

Đối với tình trạng di tự do trong nước của trẻ em gia đình, cần đề cao trách nhiệm quản , giám sát của chính quyền địa phương nơi trẻ em di đến. Đảm bảo thực hiện đầy đủ đăng di trú trên địa bàn. Kiên quyết truy trách nhiệm đến cùng, trách nhiệm của người đứng đầu sở nếu để xảy ra các trường hợp trẻ em bị bóc lột tình dục sức lao động hay trẻ em phải làm những công việc không chính thức; hay phải làm các công việc nguy hiểm, nặng nhọc, không bảo đảm về điều kiện lao động theo quy định của pháp luật ngay trên địa bàn quản

1.4. Xây dựng nguồn lực cho công tác bảo vệ quyền của trẻ em:

Nguồn lực tác giả muốn đề cập đây nhân lực vật lực. Đầu tiên, cần xây dựng phát triển, nâng cao năng lực cho đội ngũ người làm công tác bảo vệ trẻ em hoặc các đối tượng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn khác liên quan đến bảo vệ trẻ em. Tăng cường các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ bảo vệ, chăm sóc trẻ em; thanh tra lao động; cán bộ công đoàn; cán bộ quản giáo dục; cán bộ của các quan thi hành pháp luật; .... 

Tiếp theo, cần tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế với các quốc gia thành công trong công tác xóa bỏ lao động trẻ em đặc biệt các tổ chức quốc tế điển hình như UNICEF ILO để thu hút nguồn lực phối hợp xây dựng các chương trình hành động thực tế, hiệu quả về xóa bỏ lao động trẻ em Việt Nam

2. Các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tiêu chuẩn lao động quốc tế về xóa bỏ lao động cưỡng bức:

Thông qua những quy định cứng rắn của pháp luật, Việt Nam đã thể hiện cho cộng đồng quốc tế thấy về quyết tâm xóa bỏ lao động cưỡng bức tại các doanh nghiệp Việt Nam. Việt Nam mong muốn theo đuổi đến cùng mục tiêu của các nguyên tắc lao động quốc tế bản, mở ra một môi trường cạnh tranh làm mạnh; xây dựng vững chắc tấm giấy thông hànhkhi tiếp cận thị trường toàn cầu, góp phần giúp hàng hóa của doanh nghiệp tại Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường nước ngoài tránh được rủi ro bị quốc gia nhập khẩu cấm nhập khẩu, trả lại hoặc tẩy chay do phát hiện hành vi cưỡng bức lao động tại doanh nghiệp. Bởi thực tế hiện nay, nhiều nơi, nhất các thị trường phát triển như Châu Âu, Bắc Mỹ..., các nhà nhập khẩu đều không chấp nhận những sản phẩm do lao động cưỡng bức làm ra. Người dân các quốc gia phát triển cũng thói quen tẩy chay các loại hàng hóa liên quan đến việc sử dụng lao động cưỡng bức

Để bảo đảm cho các sản phẩm dịch vụ của Việt Nam được tấm giấy thông hànhkhi cung ứng, xuất khẩu sang thị trường nước ngoài loại bỏ khả năng bị trả lại hoặc tẩy chay do phát hiện sử dụng lao động cưỡng bức, Việt Nam cần kịp thời thực hiện các biện pháp xử từ góc độ hội doanh nghiệp sau đây

2.1. Nâng cao nhận thức và năng lực tự bảo vệ của người lao động chống lại lao động cưỡng bức:

Để người lao động thể tự bảo vệ mình chống lại lao động cưỡng bức, trước hết cần cải thiện, thay đổi duy cách nhìn nhận của người lao động đối với pháp luật về lao động chức năng bảo vệ người lao động của các quan chức năng, tổ chức hội, tổ chức đại diện của người lao động

Về pháp luật lao động: Thông qua các biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, truyền thông để nâng cao hiểu biết, nhận thức của người lao động về pháp luật mà đặc biệt phải giúp người lao động hiểu nhận thức về quyền lao động của mình được Nhà nước bảo đảm như thế nào; giúp người lao động tin tưởng vào tính công bằng của pháp luật hoàn toàn nhận thức được rằng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, mọi hành vi vi phạm đều phải bị xử . Để từ đó, thúc đẩy người lao động dám lên tiếng, dám đấu tranh tự bảo vệ chính mình chống lại lao động cưỡng bức

Về chức năng bảo vệ người lao động của các quan chức năng, tổ chức hội, tổ chức đại diện của người lao động: Đối với các quan, tổ chức này, khi thực hiện chức năng bảo vệ cần phải triển khai các hoạt động 

mang tính thực tế, sát thực với điều kiện lợi ích của người lao động; tuyệt đối tránh mọi hoạt động mang tính giáo điều, hình thức, phi thực tế, xa vời hoặc tạo ra thêm những thủ tục ràng buộc không cần thiết, gây phiền cho người lao động khiến cho người lao động gặp khó khăn khi muốn cầu cứu

Sự hạn chế về nhận thức đói nghèo là mối quan hệ nhân quả. Do đói nghèo thiếu thốn hội được tiếp cận các dịch vụ hội bản dẫn đến người lao động bị cưỡng bức lao động không biết để lên tiếng hoặc biết nhưng không dám lên tiếng chống lại. Do đó, cần tiếp tục làm tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống thu nhập bình quân cho người lao động nghèo, đặc biệt người lao động tại các địa bàn khó khăn người lao động trong khu kinh tế phi chính thức

2.2. Xây dựng kênh thông tin hỗ trợ công tác phòng, chống, xóa bỏ lao động cưỡng bức:

Nhiều trường hợp người lao động bị cưỡng bức lao động, hay người phát giác ra lao động cưỡng bức nhưng không không biết lên tiếng như thế nào, lên tiếng với ai và lên tiếng đâu. Do đó, rất cần thiết phải xây dựng kênh thông tin hỗ trợ công tác phòng, chống, xóa bỏ lao động cưỡng bức

Kênh thông tin được thiết lập phải được truyền thông rộng rãi dễ tiếp cận đối với mọi người đặc biệt người lao động

Cán bộ thực hiện kênh thông tin phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ, kỹ thuật hỗ trợ công tác phòng, chống, xóa bỏ lao động cưỡng bức để hỗ trợ tốt nhất cho người lao động bị cưỡng bức lao động

Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nhằm trao đổi thông tin, hỗ trợ kỹ thuật liên quan đến việc thực hiện xóa bỏ lao động cưỡng bức

2.3. Tăng cường các biện pháp thanh tra, kiểm tra và nghiêm trị các hành vi chống lại xóa bỏ lao động cưỡng bức:

Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm phát hiện xử lao động cưỡng phải được tổ chức thực hiện thường xuyên, liên tục sát sao xuống tận địa bàn sở, đặc biệt chú trọng tại khu vực kinh tế phi chính thức

Kiên quyết truy trách nhiệm đến cùng, trách nhiệm của người đứng đầu sở nếu để xảy ra các trường hợp lao động cưỡng bức ngay trên địa bàn do mình quản lý. 

Xử nghiêm minh, dứt điểm các doanh nghiệp, người sử dụng lao động lợi ích kinh tế bất chấp vi phạm các quy định của pháp luật về xóa bỏ lao động cưỡng bức

3. Các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tiêu chuẩn lao động quốc tế về xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động:

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã tích cực hợp tác với ILO nhiều tổ chức quốc tế nhằm thúc đẩy tuyên truyền bình đẳng giới giữa lao động nam lao động nữ trên toàn quốc trong các khu vực kinh tế chính thức cũng như phi chính thức

Với những nỗ lực kể trên, Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong hoạt động thiết lập bình đẳng giới giữa lao động nam lao động nữ, góp phần tích cực cho công cuộc quốc gia về xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam với cách thành viên của ILO quan trọng hơn cam kết lao động đối với Hiệp định CPTPP EVFTA

Tuy nhiên, bên cạnh đó, xét trên góc độ hội thực tiễn áp dụng pháp luật về xóa bỏ phân biệt đối xử vẫn còn nhiều hạn chế. Để giải quyết những bất cập, hạn chế nêu trên thì cần phải

3.1. Thay đổi tư tưởng của cộng đồng, xã hội và doanh nghiệp về năng lực làm việc của lao động nữ:

Đối với một quốc gia truyền thống như Việt Nam, cùng với chiều dài lịch sử tưởng cố hữu trọng nam khinh nữ”, đánh giá thấp khả năng lao động của nữ giới trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong thời kỳ hội nhập sâu rộng toàn diện hiện nay, tưởng cố hữu này cần phải bị loại bỏ triệt để. Khuyến khích, xóa bỏ mọi rào cản ngăn cản lao động nữ tiếp cận với các nguồn lực sản xuất, giáo dục, phát triển kỹ năng hội việc làm

3.2. Tăng cường vai trò của lao động nữ trong hoạt động lao động:

Cân bằng vị trí của phụ nữ nam giới trong hoạt động lao động. Nghiêm cấm đặt ra vùng cấm trong tuyển dụng hội việc làm đối với lao động nữ trừ những trường hợp xuất phát từ yêu cầu vốn của việc làm

Thực hiện các giải pháp nhằm dịch chuyển lực lượng lao động nữ từ các ngành nghề thu nhập thấp; những công việc dễ bị tổn thương hoặc trong khu vực kinh tế phi chính thức (gồm nhóm làm công việc của gia đình không được trả lương, làm giúp việc gia đình, lao động tại gia, bán hàng rong làm việc trong ngành công nghiệp giải trí) sang những hoạt động lao động chính thức, được công nhận đóng vai trò nòng cốt của hội

Xây dựng các quy định mang tính bắt buộc thay khuyến nghị như hiện nay về cấu lao động nữ trong công tác bầu, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản trong doanh nghiệp các sở sử dụng lao động

4. Các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tiêu chuẩn lao động quốc tế về tự do liên kết và thương lượng tập thể:

4.1. Phê chuẩn Công ước số 87 của ILO về tự do liên kết và bảo vệ quyền tổ chức:

Hiệp định CPTPP Hiệp định EVFTA đều đưa ra những yêu cầu cụ thể về quyền lao động điều kiện làm việc nhằm bảo đảm tự do thương mại, từ đó sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững, đồng thời cũng giúp cho người lao động doanh nghiệp cùng hưởng lợi ích về kinh tế một cách công bằng

Do đó, cả 02 FTA thế hệ mới này đều đã đặt ra chung một yêu cầu đối với các nước thành viên phải thông qua duy trì các tiêu chuẩn lao động quốc tế bản của ILO trong pháp luật cũng như trong thực tiễn của nước mình nhấn mạnh về việc tiếp tục nỗ lực nhằm phê chuẩn các công ước lao động bản của ILO

Mức độ thông qua và duy trì được xem mức độ cam kết cao nhất trong các Hiệp định FTA trên thế giới. Theo quy định khi đàm phán và gia nhập các hiệp định FTA này, các nước không được tạo ra lợi thế cạnh tranh thương mại bằng việc hạ thấp tiêu chuẩn lao động. Việc tuân thủ các điều kiện, cam kết về lao động xu thế không thể tránh khi các nước tham gia các FTA. Do đó, cam kết về lao động luôn một trong những cam kết khó thực hiện nhất trong các Hiệp định này

Bởi vậy, quyền về lao động một trong những vấn đề chính trong vòng đàm phán cuối cùng của Hiệp định CPTPP trước khi kết. Chương về lao động trong Hiệp định CPTPP cam kết cao nhất cũng khó nhất đối với Việt Nam. Theo đó, trong 03 năm đầu kể từ ngày Hiệp định này hiệu lực, nếu Việt Nam vi phạm các cam kết chung về lao động, các nước không áp dụng các biện pháp cắt giảm ưu đãi thương mại. Trong 05 năm đầu, nếu Việt Nam vi phạm về quyền tự do liên kết thương lượng tập thể, các nước không áp dụng biện pháp đình chỉ ưu đãi thương mại. Từ năm thứ 5 đến năm thứ 7 kể từ thời điểm Hiệp định CPTPP hiệu lực, các bên sẽ rà soát về các vi phạm của Việt Nam (nếu ) về quyền tự do liên kết

Tính đến thời điểm năm 2021, Việt Nam đã tham gia 7/8 Công ước bản của ILO. Trong chùm Công ước của ILO về tiêu chuẩn tự do liên kết thương lượng tập thể, Việt Nam mới chỉ thông qua tiêu chuẩn thương lượng tập thể bằng việc Quốc hội phê chuẩn Công ước số 98 của ILO. Theo dự kiến thì Chủ tịch nước sẽ trình Quốc hội phê chuẩn gia nhập Công ước bản thứ 8 Công ước số 87 về quyền tự do liên kết vào năm 2023. Đối với chủ trương gia nhập này, chúng tôi tác giả của Luận văn hoàn toàn ủng hộ. thực tế, trong quá trình công tác, khi được Bộ ngành hữu quan gửi lấy ý kiến đối với Dự thảo Đề xuất gia nhập Công ước số 87 của ILO, chúng tôi đã cho ý kiến thống nhất với đề xuất này bằng Công văn phúc đáp của quan nơi tác giả công tác

Ngoài ra, thông qua toàn bộ quá trình nghiên cứu Luận văn, với các quan điểm lập luận đã được nêu ra tại nhiều phần phía trên, chúng tôi để xuất phê chuẩn Công ước số 87 áp dụng trực tiếp toàn bộ Công ước theo quy định của Luật Điều ước quốc tế năm 2016

4.2. Hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm cân bằng địa vị và chức năng của các tổ chức đại diện người lao động:

Hiện nay, pháp luật công nhận tổ chức đại diện người lao động tại sở bao gồm: công đoàn tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Như vậy, về bản, người lao động Việt Nam đã tự do liên kết khi thêm lựa chọn để chọn ra tổ chức đại diện cho mình không bị ấn định như pháp luật trước đây chỉ thừa nhận duy nhất công đoàn

Tuy nhiên, để bảo đảm quyền tự do liên kết thực sự, phù hợp với tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO; đồng thời tạo ra một cuộc cạnh tranh bình đẳng trong thu hút hội viên tham gia giữa 02 tổ chức đều là đại diện cho người lao động này. Cần sớm hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng

(i) Mở rộng phạm vi cấp độ hoạt động cho tổ chức của người lao động không chỉ tại doanh nghiệp, bảo đảm phù hợp với quy định tại Điều 5 của Công ước số 87: Các tổ chức của người lao động lao động quyền hợp thành các liên đoàn, tổng liên đoàn, mọi tổ chức, liên đoàn hoặc tổng liên đoàn đó đều quyền gia nhập đều quyền liên kết với các tổ chức quốc tế của người lao động người sử dụng lao động

(ii) Xây dựng và ban hành quy định pháp luật về hệ thống tổ chức điều kiện thành lập, hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Bởi lẽ, chỉ khi quy định của pháp luật thì địa vị pháp của tổ chức của người lao động mới thực sự được củng cố

4.3. Hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm độc lập hóa hoàn toàn tổ chức công đoàn:

Theo quy định Luật Công đoàn năm 2012 Nghị định số 191/2013/CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết về tài chính công đoàn, tổ chức công đoàn đang lệ thuộc tài chính vào người sử dụng lao động trên thực tế, nhiều lãnh đạo công đoàn sở cũng chính quản cấp cao của doanh nghiệp pháp luật không cấm điều này. Do đó, hình chung, tổ chức công đoàn trở thành một quan hành chính khác sở. Điều này dẫn đến người lao động không cảm thấy tin tưởng vào chức năng cách đại diện của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của người lao động

Như vậy, tiếng nói của tổ chức công đoàn tại các doanh nghiệp hiện nay đang rơi vào tình trạng hoặc không trọng lượng, hoặc công đoàn sở bị chi phối, can thiệp bởi chú ý của quản doanh nghiệp. Do đó, cần hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm thay đổi chức năng, vị trí pháp , chế tổ chức hoạt động của công đoàn để khẳng định rằng vị trí của công đoàn tổ chức đại diện cho người lao động, hoạt động độc lập không bị chi phối bởi người sử dụng lao động.

4.4. Hoàn thiện quy định của pháp luật về xử phạt đối với các hành vi vi phạm quyền tự do liên kết của người lao động:

Hiện nay, hành vi xâm phạm quyền tự do liên kết của người lao động được xử bởi biện pháp hình sự theo quy định tại Điều 165 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hành vi này bị khép vào tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân

Theo đó, Điều 163 này quy định: Người nào dùng lực, đe dọa dùng lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp, đã bị xử kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt từ 03 tháng đến 03 năm tùy theo tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi. Người phạm tội còn thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm

Theo quy định của Bộ luật hình sự thì các hành vi mục đích của tội này gồm: dùng lực, đe dọa dùng lực hoặc dùng thủ đoạn khác để ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp

Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự còn khẳng định các hành vi này phải kết hợp với điều kiện đã bị xử kỷ luật hoặc xphạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này còn vi phạmthì người vi phạm mới bị xử trách nhiệm hình sự

Trên thực tế, hành vi xâm phạm quyền tự do liên kết của người lao động được thể hiện dưới nhiều dạng thức hành vi khác nhau với mục đích không chỉ dừng lại việc ngăn cản hoặc ép buộc người lao động lập hội. Bởi , quyền tự do liên kết quyền tự do thành lập, gia nhập hoạt động tổ chức đại diện của người lao động

Các dạng thức thể hiện hành vi xâm phạm quyền tự do liên kết ngoài 03 hành vi trong luật hình sự thì còn những hành vi sau

(i) Phân biệt đối xử đối với người lao động, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại sở (về tiền lương, thời giờ làm việc, các quyền nghĩa vụ khác trong quan hệ lao động) do thành lập, gia nhập hoặc hoạt động tổ chức đại diện người lao động

(ii) Yêu cầu người lao động ra khỏi tổ chức đại diện người lao động tại sở để được tuyển dụng, giao kết hoặc gia hạn hợp đồng lao động

(iii) Sa thải, kỷ luật, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, không tiếp tục giao kết hoặc gia hạn hợp đồng lao động, chuyển người lao động làm công việc khác do hoạt động tổ chức đại diện người lao động

(iv) Cản trở, gây khó khăn liên quan đến công việc nhằm làm suy yếu hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại sở

(v) Ngăn cản cán bộ tổ chức đại diện người lao động tiếp cận người lao động tại nơi làm việc trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động tại sở

(vi) Cản trở cán bộ tổ chức đại diện người lao động sử dụng thời gian làm việc theo quy định để thực hiện công việc của tổ chức đại diện người lao động tại sở bằng cách không trả lương trong thời gian đó

(vii) Can thiệp, thao túng quá trình thành lập, bầu cử, xây dựng kế hoạch công tác tổ chức thực hiện các hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại sở, bao gồm cả việc hỗ trợ tài chính hoặc các biện pháp kinh tế khác nhằm làm hiệu hóa hoặc suy yếu việc thực hiện chức năng đại diện của tổ chức đại diện người lao động tại sở hoặc phân biệt đối xử giữa các tổ chức đại diện người lao động tại sở

(viii) Không công nhận hoặc không tôn trọng các quyền của tổ chức đại diện người lao động tại sở đã được thành lập hợp pháp

(ix) Không thỏa thuận bằng văn bản với ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại sở khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chuyển làm công việc khác, kỷ luật sa thải đối với người lao động thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại sở

Như vậy, trong thực tế diễn ra tại doanh nghiệp sẽ rất nhiều hành vi xâm phạm với mục đích khác so với quy định của pháp luật hình sự, hoặc những hành vi xâm phạm quyền gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng lại chưa thỏa mãn điều kiện đã bị xử kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này còn vi phạm. Điều này dẫn đến thực trạng hành vi vi phạm nhưng rất khó xử cũng chưa có cơ chế biện pháp khác để xử cho thích đáng. Bên cạnh đó, phạm vi điều chỉnh của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 chỉ quy định xử trách nhiệm hình sự pháp nhân đối với 33 tội, trong đó không bao gồm tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân (Quyền tự do liên kết)

Hậu quả nghiêm trọng các hành vi vi phạm quyền tự do liên kết của người lao động gây ra rất lớn. cấp độ quốc tế Việt Nam đang vi phạm cam kết lao động trong CPTPP EVFTA. cấp độ trong nước người sử dụng lao động đang vi phạm quyền tự do của người lao động, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất hiệu quả lao động, cản trở phát triển kinh tế bền vững doanh nghiệp nói riêng của đất nước nói chung. Do đó, cần sớm hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm

Thứ nhất, quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành điều khoản về xử hình sự hiện nay. Nếu cần thiết phải sửa đổi, bổ sung, đa dạng hóa các quy định về biện pháp xử phạt đối với hành vi vi phạm quyền tự do liên kết của người lao động

Thứ hai, đề nghị nghiên cứu, cân nhắc tính đến tính nghiêm trọng hành vi vi phạm quyền tự do liên kết gây ra đối với hoạt động sản xuất, môi trường kinh doanh chính người lao động để tăng mức xử phạt lên mức thích đáng, phù hợp

4.5. Hoàn thiện quy định của pháp luật để bảo đảm thương lượng thực chất:

Mục đích của thương lượng tập thể nhằm bỏ qua khác biệt để tìm đến tiếng nói chung lợi ích chính đáng mỗi bên được hưởng. Nếu tổ chức tốt cuộc đàm phán đó thì hiệu quả của còn lớn hơn bất kỳ quy định hay thiết chế nào. Bởi lẽ, cuộc đàm phán đó được diễn ra sẽ đờihơn, thựchơn sát sườnvới người lao động hơn. Trong phiên thương lượng đó, người lao động được cất lên tiếng nói, nhu cầu nguyện vọng thực tế của bản thân để cùng người sử lao động trao đổi đưa ra thỏa thuận hợp nhất đối với lợi ích của đôi bên

Để đạt được điều tốt đẹp này, cần phải hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm thực hành thương lượng tập thể thực chất theo hướng

(i) Bảo đảm tổ chức đại diện người lao động phải là đại diện đúng nghĩa, phải hành động và thể hiện tiếng nói của người lao động theo ủy quyền của người lao động mà không bị chi phối bởi ý chí của người sử dụng lao động. Ban lãnh đạo của tổ chức đại diện phải do chính người lao động bầu chọn trên sở tự do phiếu. Cán bộ của tổ chức đại diện phải người người lao động tín nhiệm có khả năng làm tốt vai trò đại diện cho tập thể người lao động chỉ khi được sự tín nhiệm, họ mới sức mạnh tập thể để thương lượng

(ii) Bảo đảm nội dung, cách thức, thành phần, số lượng người tham gia dự kiến các quyết định trong toàn bộ quá trình thương lượng phải do tổ chức đại diện tập thể người lao động cùng nhau bàn bạc, thảo luận trước. Tổ chức đại diện không tự ý cân nhắc, quyết định vấn đề được đưa ra thương lượng. Trong quá trình tiến hành thương lượng, mỗi quyết định của tổ chức đại diện đưa ra với bên sử dụng lao động phải được sự thống nhất của người lao động. Kết quả của mỗi phiên đàm phán trong suốt quá trình thương lượng phải công khai, minh bạch cho người lao động

(iii) Quy định khi thương lượng đi vào bế tắc, tổ chức đại diện phải thảo luận với người lao động để tìm hướng giải quyết, chứ không thụ động chờ ý chí của người sử dụng lao động. Tổ chức đại diện người lao động địa vị, chức năng quyền pháp luật bảo đảm, do đó, với cách này, tổ chức đại diện người lao động hoàn toàn thể chủ động buộc người sử dụng lao động phải phối hợp để tháo gỡ bế tắc

4.6. Bổ sung quy định về nghĩa vụ tận tâm, thiện chí thương lượng tập thể của người sử dụng lao động:

Điều 6 BLLĐ năm 2019 quy định về quyền nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Theo đó, quy định tại Điều này cho phép người sử dụng lao động quyền yêu cầu tổ chức đại diện người lao động thương lượng với mục đích kết thỏa ước lao động tập thể mà không nhắc đến quyền này như một nghĩa vụ của người sử dụng lao động

Theo quy định này, người sử dụng lao động quyền yêu cầu tổ chức đại diện người lao động phải theo đến cùng của thương lượng tập thể cho đến khi phải ra được thỏa ước lao động tập thể. Thiết nghĩ, để cuộc thương lượng thể được tổ chức tổ chức đạt kết quả thì pháp luật cũng nên cách tiếp cận theo chiều hướng ngược lại. Đề nghị nên Việt hóa nguyên tắc Pacta sunt servandavào quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong việc tận tâm, thiện chí thương lượng tập thể.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo