Về đối tượng hưởng, theo quy định tại Điều 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.
Về đối tượng hưởng, theo quy định tại Điều 5 Nghị định 136/2013/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội bao gồm:
Thứ nhất, trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng thuộc một trong các trường hợp: bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi; mồ côi cả cha và mẹ; mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại mất tích theo quy định của pháp luật; mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội; mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; cả cha và mẹ mất tích theo quy định của pháp luật; cả cha và mẹ đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội…
Thứ hai, người từ 16 tuổi đến 22 tuổi mất nguồn nuôi dưỡng và hiện đang học hệ phổ thông, học nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất.
Thứ ba, trẻ em bị nhiễm HIV, người bị nhiễm HIV thuộc hộ nghèo, không có nguồn trợ cấp nào.
Thứ tư, người đơn thân nghèo đang nuôi con.
Thứ năm, người cao tuổi thuộc hộ nghèo không có người phụng dưỡng; người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu, trợ cấp;
Thứ sáu, trẻ em khuyết tật, người khuyết tậ theo quy định của pháp luật về người khuyết tật.

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 1900.6568
Như vậy, so với 9 nhóm đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên theo Nghị định số 67/2007/NĐ CP ngày 13/4/2007 và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 67/2007/NĐ-CP thì quy định về đối tượng hưởng trợ cấp xã hội theo quy đại tại Nghị định 136/2013/NĐ-CP đã quy định rõ ràng về đối tượng trẻ em phải là người dưới 16 tuổi chứ không chỉ là trẻ em như trong quy định cũ, và quy định rõ ràng các trường hợp trẻ em không có nguồn nuôi dưỡng chứ không quy định chung như quy định cũ. Ngoài ra, đối với đối tượng người cao tuổi, theo quy định cũ người trên 85 tuổi không có nguồn trợ cấp nào được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng thì quy định mới đã giảm độ tuổi này xuống 80 tuổi. Đây là một quy định phù hợp bởi mức tuổi 85 tuổi là quá cao và ít người có thể đạt đến mức tuổi đó để được hưởng trợ cấp trong khi từ 80 tuổi nếu không có nguồn trợ cấp nào thì người này cũng ít cơ hội tham gia lao động để đảm bảo cuộc sống của bản thân. Điều này phản ánh trình độ phát triển kinh tế – xã hội của nước ta qua từng thời kỳ, song điều quan trọng hơn là sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đến công tác xã hội nói chung, công tác trợ giúp xã hội nói riêng ngày càng được khẳng định nhằm thực hiện mục tiêu đưa chính sách trợ giúp xã hội đến với mọi cá nhân, hộ gia đình gặp khó khăn, bất hạnh, tạo điều kiện tối đa để người dân tiếp cận với các chính sách xã hội một cách thuận tiện nhất.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, quy định về đối tượng hưởng vẫn chưa có sự thống nhất giữa việc xác định đối tượng trẻ em (người dưới 16 tuổi) được hưởng trợ cấp xã hội với việc xác định độ tuổi của người lao động (người đủ 15 tuổi). Thiết nghĩ những người đã đủ 15 tuổi cần đi làm để tự nuôi sống bản thân, không nên đưa vào đối tượng hưởng trợ cấp xã hội, trừ trường hợp đặc biệt không thể đi làm kiếm sống.
Thứ hai, chưa có sự giải thích công bằng về điều kiện hưởng trợ giúp xã hội. Nhìn chung các đối tượng hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên điều kiện khá khắt khe, chưa kể việc có những đối tượng thực tế đủ điều kiện hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên nhưng vì sự thiếu thiện chí, công tâm hoặc vô trách nhiệm của những người làm công tác xét duyệt hồ sơ mà vô tình hay hữu ý đã gạt bỏ một lượng không nhỏ các đối tượng đủ điều kiện ra ngoài danh sách được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên của địa phương mình. Trong khi đó, điều kiện và thực tế thực hiện trợ giúp xã hội đột xuất lại khá dễ dàng, đại khái.

Tư vấn pháp luật qua Zalo


