Đánh thuế hai lần là gì? Hiệp định tránh đánh thuế hai lần?

Nhà đầu tư nước ngoài và Việt Nam cần hiểu rõ tình hình của hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và các nước khác, cũng như là các điều kiện và điều khoản mà người nước ngoài phải tuân thủ để tối đa hóa lợi nhuận. Đánh thuế hai lần là gì? Hiệp định tránh đánh thuế hai lần?

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Đánh thuế hai lần là gì?

Đánh thuế hai lần hay còn gọi là đánh thuế trùng trong tiếng Anh được gọi là Double taxation.

Như chúng ta đã biết vấn đề đánh thuế hai lần là một hiện tượng bất lợi liên quan đến việc phải nộp thuế hai lần cho cùng một đối tượng đánh thuế, ví dụ như thu nhập hay tài sản. Đánh thuế hai lần thường có liên quan là với thuế thu nhập và thuế tài sản.

Đánh thuế thu nhập và lợi nhuận ở nước tạo ra thu nhập và đánh thuế một lần nữa khi những khoản thu nhập và lợi nhuận này được chuyển về nước của người kiếm được thu nhập.

Ta có thể thấy việc chúng ta đánh thuế hai lần như vậy có thể cản trở đáng kể sự di chuyển quốc tế của lao động và tư bản. Vì vậy, các nước thường kí hiệp định tránh đánh thuế hai lần và các khoản thu nhập thường chi phải chịu thuế ở nước kiếm được thu nhập.

Một số khoản thuế bị đánh nhiều lần. Ví dụ các công ty phải nộp thuế lợi nhuận, sau đó khi lợi nhuận được chia dưới dạng cổ tức, người nhận cổ tức lại phải nộp thuế thu nhập một lần nữa.

Như chúng ta đã biết việc xử lý thuế trong từng trường hợp phải dựa vào các điều khoản trong mỗi hiệp định. Trường hợp nếu thấy có sự khác biệt rõ ràng giữa điều khoản của hiệp định và các quy định của luật thuế nước sở tại, những điều khoản của hiệp định sẽ được áp dụng.

Theo đó ta thấy với các hiệp định tránh đánh thuế 2 lần sẽ không tạo ra các nghĩa vụ thuế mới hay các loại thuế phát sinh nặng hơn so với luật thuế trong nước. Trong trường hợp một DTAA gồm các điều khoản có các quy định theo đó Việt Nam có quyền thu thuế đối với một loại thu nhập nào đó hoặc thu thuế với một mức thuế suất nhất định nhưng luật Việt Nam chưa quy định về thu thuế đối với thu nhập đó hoặc quy định một tỷ lệ thuế thấp hơn, Luật thuế Việt Nam sẽ được áp dụng.

2. Hiệp định tránh đánh thuế hai lần:

Căn cứ dựa theo quy định tại điều 2. Các loại thuế bao gồm trong Hiệp định:

Giữa Chính Phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính phủ nước đại hàn Dân quốc về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập.

1. Hiệp định này áp dụng đối với các loại thuế do một Nước ký kết hoặc các cơ quan chính quyền cơ sở, hay chính quyền địa phương của Nước đó, đánh vào thu nhập, bất kể hình thức áp dụng của các loại thuế đó như thế nào.

2. Tất cả các loại thuế thu trên tổng thu nhập, hoặc những phần của thu nhập, bao gồm các khoản thuế đối với lợi tức từ việc chuyển nhượng động sản hoặc bất động sản, thuế đánh vào tổng số tiền lương do xí nghiệp trả cũng như các khoản thuế đánh vào phần vốn tăng thêm, đều được coi là các loại thuế đánh vào thu nhập.

3. Những loại thuế hiện hành được áp dụng trong Hiệp định này là:

a. Trong trường hợp đối với Hàn Quốc

(i) Thuế thu nhập;

(ii)Thuế công ty; và

(iii) Thuế cư trú

(dưới đây được gọi là “thuế Hàn Quốc”)

b. Trong trường hợp đối với Việt Nam

(i). Thuế thu nhập cá nhân;

(ii). Thuế lợi tức; và

(iii). Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài;

(dưới đây được gọi là ”thuế Việt Nam“);

4. Hiệp định này cũng sẽ được áp dụng cho các loại thuế có tính chất tương tự hay về căn bản giống như các loại thuế trên được ban hành sau ngày ký kết Hiệp định này để bổ sung, hoặc thay thế các loại thuế hiện hành. Các nhà chức trách có thẩm quyền của các Nước ký kết sẽ thông báo cho nhau những thay đổi quan trọng trong luật thuế của từng Nước.

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là Điều ước quốc tế được kí kết giữa hai chủ thể của luật quốc tế (chủ yếu là quốc gia) nhằm tránh việc đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn và lậu thuế đối với thu nhập và thuế tài sản.

Điều ước này được áp dụng cho đối tượng là những đối tượng cư trú của một hoặc hai bên kí kết.

Điều ước này áp dụng đối với các loại thuế do một bên kí kết đánh vào thu nhập và vào tài sản, bất kể hình thức áp dụng của các loại thuế đó như thế nào.

Tính đến ngày 15/7/2014, Việt Nam đã kí Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thu nhập với 69 nước/vùng lãnh thổ trên thế giới.

Mục đích kí kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần nhằm loại bỏ việc đánh thuế trùng bằng cách:

(a) miễn, giảm số thuế phải nộp tại Việt Nam cho các đối tượng cư trú của nước kí kết hiệp định; hoặc (b) khấu trừ số thuế mà đối tượng cư trú Việt Nam đã nộp tại nước kí kết hiệp định vào số thuế phải nộp tại Việt Nam.

Ngoài ra, Hiệp định còn tạo khuôn khổ pháp lí cho việc hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa cơ quan thuế Việt Nam với cơ quan thuế các nước/vùng lãnh thổ trong công tác quản lí thuế quốc tế nhằm ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và vào tài sản.

3. Biện pháp để tránh đánh thuế hai lần tại Việt Nam:

Hiện nay ta thấy Việt Nam vẫn đánh thuế thu nhập của người nộp thuế là đối tượng cư trú Việt Nam và có được thu nhập từ nước ký kết hiệp định với Việt Nam và đã nộp thuế tại nhà nước đó. Như vậy ta thấy theo mỗi hiệp định ký kết, Việt Nam sẽ áp dụng một hoặc kết hợp ba biện pháp dưới đây để loại bỏ thuế kép:

3.1. Về biện pháp khấu trừ thuế cụ thể:

Tại biện pháp này ta thấy nếu một cư dân Việt Nam có được thu nhập từ và đã nộp thuế với nước ký kết hiệp định với Việt Nam. Trong hiệp định đó, Việt Nam cam kết áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, khi đối tượng cư trú này khai thuế tại Việt Nam, thu nhập này sẽ được tính vào thu nhập thuế theo luật thuế hiện hành của Việt Nam. Số tiền thuế đã nộp tại nước ký kết sẽ được khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt Nam.

3.2. Về biện pháp khấu trừ số thuế khoán:

Nếu như với trường hợp một đối tượng cư trú Việt Nam có được thu nhập và phải nộp thuế với nước ký kết hiệp định với Việt Nam. Như vậy ta thấy tại Việt Nam cam kết áp dụng phương pháp khấu trừ số thuế khoán, khi đối tượng cư trú này thực hiện khai thuế tại Việt Nam, khoản thu nhập này sẽ được tính trong thu nhập tính thuế theo pháp luật Việt Nam hiện hành và số tiền thuế khoán sẽ được kháu trừ vào tiền thuế phải trả tại Việt Nam. Thu nhập chịu thuế đươc khấu trừ hoặc giảm tại nước ký kết như một ưu tiên đặc biệt.

3.3. Biện pháp khấu trừ gián tiếp cụ thể:

Nếu như có các trường hợp đối tượng cư trú Việt Nam nào đó mà họ có thu nhập từ nước ký kết hiệp định tránh  và thu nhập của công ty được trả trước khi phân chia cho đối tượng cư trú đó. Thu nhập này sẽ được tính trong thu nhập tính thuế tại Việt Nam và tiền thuế gián thu đã nộp tại nước ký kết sẽ được khấu trừ trong tiền thuế phải trả ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, tiền thuế được khấu trừ sẽ không vượt quá tiền thuế phải trả tại Việt Nam.

Một đối tượng cư trú là đối tượng áp dụng của hiệp định này và biện pháp này nắm quyền kiếm soát trực tiếp với một tỷ lệ nhỏ (thường là 10%) quyền biểu quyết trong công ty cổ phần.

Nếu Việt Nam không com kết một biện pháp khấu trừ thuế gián tiếp trong hiệp định nhưng theo luật Việt Nam, thu nhập có được từ nước ngoài của một đối tượng trú Việt Nam được khấu trừ thuế gián tiếp, những quy định này vẫn được thực hiện.

4. Việt Nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần DTAAs với một số quốc gia:

STT Quốc gia Ngày ký kết Nơi ký kết Hiệu lực
1 Úc 13/10/1992 Hà Nội 13/10/1992
2 Thái Lan 23/12/1992 Hà Nội 29/12/1992
3 Pháp 10/02/1993 Hà Nội 01/07/1994
4 Nga 27/05/1993 Hà Nội 21/03/1996
5 Thụy Điển 24/03/1994 Stockholm 08/08/1994
6 Hàn Quốc 20/05/1994 Hà Nội 11/09/1994
7 Vương quốc Anh 09/04/1994 Hà Nội 15/09/1994
8 Singapore 02/03/1994Biên bản sửa đổi: 12/09/2012 Hà NộiSingapore 09/09/199411/01/2013
9 Ấn Độ 07/09/1994 Hà Nội 02/02/1995
10 Hungary 26/08/1994 Budapest 30/06/1995
11 Ba Lan 31/08/1994 Warsaw 28/01/1995
12 Hà Lan 24/01/1995 Hague 25/10/1995
13 Trung Quốc 17/03/1995 Bắc Kinh 18/10/1995
14 Đan Mạch 31/05/1995 Copenhagen 24/04/1996
15 Na Uy 01/01/1995 Olso 14/04/1996
16 Nhật Bản 24/10/1995 Hà Nội 31/12/1995
17 Đức 16/10/1995 Hà Nội 27/12/1996
18 Romania 08/07/1995 Hà Nội 24/04/1996
19 Malaysia 07/09/1995 Kuala Lumpur 13/08/1996
20 Lào 14/01/1996 Viêng Chăn 30/09/1996
21 Bỉ 28/02/1996 Hà Nội 25/06/1999
22 Luxembourg 04/03/1996 Hà Nội 19/05/1998
23 Uzbekistan 28/03/1996 Hà Nội 16/08/1996
24 Ukraine 08/04/1996 Hà Nội 22/11/1996
25 Thụy Sĩ 06/05/1996 Hà Nội 12/10/1997
26 Mông Cổ 08/05/1996 Ulan Bator 11/10/1996
27 Bulgaria 24/04/1996 Hà Nội 14/10/1996
28 Ý 26/11/1996 Hà Nội 20/02/1999

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo