Chứng cứ chỉ còn bản sao thì có quyền khởi kiện không?

Chị này định khởi kiện với lý do mẹ em chưa trả nợ. Mẹ em đã xé đơn kiện và tờ giấy gốc vay tiền. Nhưng chị đó dọa vẫn khởi kiện vì còn những bản sao khác nữa.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Chung-cu-chi-con-ban-sao-thi-co-quyen-khoi-kien-khongTóm tắt câu hỏi:

Mẹ em vay 10 triệu đồng của một chị để ba em đi nước ngoài. Sau đó ba em đã gửi tiền về để mẹ trả nợ. Em và mẹ đã trả hết số nợ sau khi đi nhận tiền ba gửi ở tại ngân hàng. Khi vay tiền mẹ em có kí vào một tờ giấy cho vay viết tay, tuy nhiên khi trả nợ lại không hủy tờ giấy đó. Chị này định khởi kiện mẹ em với lý do là mẹ em chưa trả nợ. Lúc xảy ra xung đột, mẹ em đã xé đơn kiện và tờ giấy gốc vay tiền đó. Tuy nhiên chị đó dọa sẽ tiếp tục khởi kiện vì chị ta vẫn còn những bản sao khác nữa. Vậy, cho em hỏi, với những bản sao đó chị ta có thể khởi kiện lại hay làm gì được không? Em xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Điều 58, Bộ Luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi bổ sung 2011 quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự, trong đó có: “Cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.

Điều 79 quy định về nghĩa vụ chứng minh: “Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”.

Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Toà án sẽ giải thích cho đương sự biết, nếu đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ, thì Toà án tiến hành giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục chung. Toà án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc dân sự và nếu vụ việc dân sự được xét xử, giải quyết tại phiên toà, phiên họp, thì Toà án chỉ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, phiên họp, kết quả của việc hỏi tại phiên toà, phiên họp, xem xét đầy đủ ý kiến của người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên để quyết định. Đương sự phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ.

Căn cứ vào những quy định trên, trong trường hợp này, nếu người cho mẹ bạn vay tiền muốn khởi kiện yêu cầu mẹ bạn phải trả số tiền đã vay thì người đó có nghĩa vụ phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, bản gốc của giấy vay nợ có chữ ký của mẹ bạn đã bị hủy bỏ, nên người đó chỉ có thể nộp những bản sao còn lại cho Tòa án nhân dân nếu có yêu cầu khởi kiện. Trong khi đó, Khoản 2, Điều 83, Bộ Luật tố tụng dân sự quy định cụ thể việc xác định với loại chứng cứ này: “Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận”. Như vậy, nếu những bản sao của giấy vay nợ mà người khởi kiện nộp không có công chứng, chứng thực hợp pháp thì những bản sao đó không được coi là chứng cứ. Lúc này, Tòa án vẫn thụ lý giải quyết vụ việc nhưng chỉ giải quyết theo thủ tục chung.

Chung-cu-chi-con-ban-sao-thi-co-quyen-khoi-kien-khong

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 1900.6568

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, kể cả trong trường hợp bản sao giấy vay nợ được nộp cho Tòa án có công chứng, chứng thực hay không, mẹ bạn vẫn có quyền trình bày trước Tòa án về việc đã trả hết khoản nợ đó, và vì nghĩa vụ trả nợ đã hoàn thành nên bản gốc giấy vay nợ mới bị hủy bỏ. Tòa án giải quyết vụ việc sẽ không chỉ căn cứ vào chứng cứ là giấy vay nợ, mà còn dựa trên lời khai của các bên, lời khai của người làm chứng, cũng như quá trình đối chất… để đưa ra được phán quyết đúng đắn và hợp lý nhất.

Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Nếu còn bất cứ thắc mắc gì liên quan đến sự việc bạn có thể liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của Luật sư: 1900.6568 để được giải đáp.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo