Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai, không ít trường hợp quyền sử dụng đất là di sản thừa kế nhưng chưa kịp phân chia thì Nhà nước đã tiến hành thu hồi. Khi đó, vấn đề phát sinh không chỉ dừng lại ở việc xác định giá trị bồi thường mà còn liên quan trực tiếp đến việc xác định chủ thể có quyền được nhận khoản bồi thường này.
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Ai được hưởng bồi thường thu hồi đất chưa chia thừa kế?
Khoản 5 Điều 3 Luật Đất đai 2024 quy định: Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất của diện tích đất thu hồi cho người có đất thu hồi.
Và Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Vì thế, trường hợp người được bồi thường đất mất đi, số tiền đền bù lúc này được xem như là di sản thừa kế.
Theo đó, trường hợp người sử dụng đất có người thừa kế thì những người thuộc hàng thừa kế hợp pháp hoặc được chỉ định trong di chúc sẽ là người có quyền hưởng khoản tiền bồi thường này. Việc phân chia được thực hiện theo di chúc (nếu có) hoặc theo quy định về thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp di sản chưa được chia, các đồng thừa kế sẽ cùng có quyền đối với khoản tiền bồi thường và cần tiến hành thủ tục khai nhận hoặc phân chia di sản để xác định phần của từng người.
Ngược lại, nếu người chết không có người thừa kế hoặc tất cả những người thừa kế đều từ chối nhận di sản theo quy định thì toàn bộ di sản (bao gồm cả khoản tiền bồi thường) sẽ thuộc về Nhà nước theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Đây là trường hợp đặc biệt, thể hiện nguyên tắc không để tài sản vô chủ tồn tại ngoài sự quản lý của Nhà nước.
Cần lưu ý, không phải mọi trường hợp thu hồi đất đều được bồi thường. Nếu tại thời điểm thu hồi, người sử dụng đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của Luật Đất đai (ví dụ: đất sử dụng không hợp pháp, vi phạm pháp luật đất đai…) thì dù có người thừa kế, khoản tiền bồi thường cũng không phát sinh; đồng nghĩa với việc không có di sản là tiền bồi thường để chia thừa kế.
Một trường hợp khác cũng thường gặp là người thừa kế từ chối nhận di sản. Khi đó, phần di sản mà họ từ chối sẽ được chia lại cho những người thừa kế khác theo quy định của pháp luật. Nếu tất cả đều từ chối thì xử lý như trường hợp không có người thừa kế – tức là Nhà nước nhận phần di sản đó.
Như vậy: Trong trường hợp đất bị thu hồi khi chưa chia thừa kế thì người được hưởng tiền bồi thường sẽ những người thừa kế hợp pháp của họ.
2. Đất không có người thừa kế có được thu hồi hay không?
Theo khoản 1 Điều 37 Luật Đất đai 2024, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức; đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 26 và Điều 31 của Luật Đất đai 2024;
- Chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp với cá nhân khác;
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất theo quy định của pháp luật;
- Cho tổ chức, cá nhân khác, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam thuê quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất;
- Cá nhân sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật. Trường hợp người được thừa kế là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật Đất đai 2024 thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật Đất đai 2024 thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó;
- Tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước; tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng hoặc mở rộng đường giao thông theo quy hoạch; tặng cho quyền sử dụng đất để làm nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết gắn liền với đất theo quy định của pháp luật; tặng cho quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đối với cá nhân hoặc người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật Đất đai 2024;
- Thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật;
- Góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất với tổ chức, góp quyền sử dụng đất với cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh.
Theo đó, khi một cá nhân qua đời, quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của họ sẽ trở thành di sản thừa kế. Người được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất không chỉ trở thành chủ thể sử dụng đất hợp pháp mới mà còn phải kế thừa và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ phát sinh đối với thửa đất theo quy định của pháp luật đất đai.
Và theo khoản 1 Điều 46 Luật Đất đai 2024 quy định:
- Cá nhân là người dân tộc thiểu số được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo quy định tại khoản 3 Điều 16 của Luật Đất đai 2024 được để thừa kế, tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người thuộc hàng thừa kế là đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Đất đai 2024;
- Trường hợp người sử dụng đất chết mà không có người thừa kế thuộc hàng thừa kế là đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Đất đai 2024 thì Nhà nước thu hồi đất và bồi thường tài sản gắn liền với đất cho người thừa kế theo quy định của pháp luật; trường hợp người sử dụng đất chuyển khỏi địa bàn cấp tỉnh nơi có đất đến nơi khác sinh sống hoặc không còn nhu cầu sử dụng mà không tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người thuộc hàng thừa kế là đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Đất đai 2024 thì Nhà nước thu hồi đất và bồi thường tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật cho người có đất thu hồi. Diện tích đất đã thu hồi được dùng để tiếp tục giao đất, cho thuê đất cho cá nhân khác là người dân tộc thiểu số theo chính sách quy định tại Điều 16 của Luật này.
Như vậy: Trường hợp người sử dụng đất chết mà không có người thừa kế thì quyền sử dụng đất chấm dứt và thuộc diện Nhà nước thu hồi. Đây là một trong những căn cứ thu hồi đất do việc sử dụng đất không còn chủ thể kế thừa hợp pháp theo quy định.
3. Thẩm quyền thu hồi đất của người đã chết nhưng không có người nhận thừa kế?
Điều 83 Luật Đất đai 2024 quy định thẩm quyền thu hồi đất như sau:
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất đối với tổ chức trong nước, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc trường hợp quy định tại Điều 81 và Điều 82 Luật Đất đai 2024;
- Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thuộc trường hợp quy định tại Điều 81 và Điều 82 Luật Đất đai 2024.
Đối chiếu đến Điều 81 và Điều 82 Luật Đất đai 2024 thì thẩm quyền thu hồi đất do cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế như sau:
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ ra quyết định thu hồi đất trong trường người sử dụng đất chết là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài mà không có người nhận thừa kế sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản theo quy định của pháp luật về dân sự;
- Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong trường hợp cá nhân sử dụng đất chết mà không có người nhận thừa kế sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản theo quy định của pháp luật về dân sự.
Sau sáp nhập, khoản 1 Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP sửa đổi quy định như sau: Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của Luật Đất đai chuyển giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện.
Như vậy: Thẩm quyền thu hồi đất trong trường hợp người sử dụng đất đã chết mà không có người thừa kế thuộc về Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cấp tỉnh/thành phố, tùy theo đối tượng sử dụng đất và loại đất cụ thể theo quy định của pháp luật.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


