Trong thực tiễn, việc lập di chúc bằng văn bản không phải lúc nào cũng có thể thực hiện, đặc biệt trong những tình huống khẩn cấp, tính mạng bị đe dọa. Khi đó, di chúc miệng trở thành một hình thức thể hiện ý chí cuối cùng của người để lại di sản. Vậy: Lập di chúc miệng cần phải có bao nhiêu người làm chứng?
Mục lục bài viết
- 1 1. Lập di chúc miệng cần phải có bao nhiêu người làm chứng?
- 2 2. Điều kiện để là người làm chứng khi lập di chúc miệng là gì?
- 3 3. Các rủi ro pháp lý thường gặp khi lập di chúc miệng:
- 3.1 3.1. Rủi ro về điều kiện lập di chúc miệng không được chứng minh đầy đủ:
- 3.2 3.2. Không bảo đảm số lượng và tư cách hợp pháp của người làm chứng:
- 3.3 3.3. Rủi ro do việc ghi chép, xác nhận nội dung di chúc không đầy đủ:
- 3.4 3.4. Không thực hiện công chứng, chứng thực đúng thời hạn luật định:
- 3.5 3.5. Khó chứng minh trạng thái tinh thần và ý chí tự nguyện của người lập di chúc:
1. Lập di chúc miệng cần phải có bao nhiêu người làm chứng?
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển giao tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Thông thường, di chúc được lập dưới hình thức văn bản. Tuy nhiên, trong trường hợp tính mạng của người lập di chúc bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì pháp luật cho phép họ được lập di chúc miệng.
Di chúc miệng từ lâu đã được biết đến trong đời sống xã hội với nhiều tên gọi khác nhau như: di lệnh, di ngôn, hay lệnh… phản ánh việc người để lại di sản thể hiện ý chí của mình thông qua lời nói nhằm định đoạt tài sản cho những người còn sống sau khi qua đời.
Do di chúc bằng miệng không phải là loại hình di chúc được lập thành văn bản cho nên để di chúc miệng được coi là di chúc hợp pháp thì cần phải đáp ứng được những điều kiện theo quy định của pháp luật. Căn cứ theo quy định tại Điều 630 của Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về di chúc hợp pháp, theo đó thì di chúc hợp pháp sẽ có đầy đủ những điều kiện cơ bản sau đây:
- Người lập di chúc phải đáp ứng yêu cầu về tinh thần, phải minh mẫn và sáng suốt trong quá trình lập di chúc, người lập di chúc không bị lừa dối hoặc đe dọa hoặc bị cưỡng ép dưới bất kỳ hình thức nào;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của pháp luật, nội dung không đi ngược với thuần phong mỹ tục và không trái đạo đức xã hội;
- Hình thức của di chúc không trái quy định của pháp luật, hiện nay theo quy định của pháp luật thì di chúc phải được lập thành văn bản, trong trường hợp không có khả năng lập thành văn bản thì có thể lập di chúc bằng miệng;
- Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành văn bản theo quy định của pháp luật, và phải được cha mẹ hoặc người giám hộ của người lập di chúc đồng ý;
- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất, người có nhược điểm về tinh thần, hoặc người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
- Di chúc bằng văn bản không có công chứng hoặc chứng thực sẽ chỉ được coi là hợp pháp khi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện nêu trên;
- Di chúc bằng miệng chỉ được coi là hợp pháp nếu như người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất 02 người làm chứng theo quy định của pháp luật, bên cạnh đó thì ngay sau khi người lập di chúc bằng miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình, người làm chứng cần phải tiến hành hoạt động chép lại và ký tên hoặc điểm chỉ vào trong bản ghi chép đó. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, được tính kể từ ngày người có di chúc bằng miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành hoạt động chứng thực xác nhận chữ ký hoặc xác nhận điểm chỉ của người làm chứng theo quy định của pháp luật.
Như vậy: Lập di chúc miệng theo quy định của pháp luật hiện nay cần phải có ít nhất 02 người làm chứng.
Di chúc chính là sự thể hiện ý chí cá nhân của người lập, ý chỉ này được thể hiện qua việc người lập di chúc toàn quyền quyết định việc chuyển giao tài sản của minh cho ai sau khi cá nhân đó chết, hay nói cách khác người lập di chúc không phải bàn bạc hay thông qua sự đồng ý từ người thừa kế về nội dung của di chúc.
Di chúc phải được lập một cách tự nguyện, nghĩa là phải có sự thống nhất giữa ý chí thực sự của người lập di chúc và việc thể hiện ra ngoài thông qua hình thức cụ thể. Vì thế, người làm chứng cho người lập di chúc là một chế định phù hợp với thực tế.
2. Điều kiện để là người làm chứng khi lập di chúc miệng là gì?
Căn cứ theo quy định tại Điều 632 của Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về việc người làm chứng cho việc lập di chúc. Theo đó thì mọi người đều có thể làm chứng cho hoạt động lập di chúc của các chủ thể, ngoại trừ những trường hợp sau đây sẽ không được tiến hành hoạt động làm chứng trong quá trình lập di chúc:
- Người thừa kế theo di chúc hoặc người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc sẽ không được trở thành người làm chứng trong quá trình lập di chúc thi công đảm bảo tính khách quan;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung của di chúc;
- Người chưa thành niên;
- Người mất năng lực hành vi dân sự;
- Người có khó khăn trong nhận thức hoặc làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật dân sự.
Như vậy: Để được coi là có giá trị pháp lý hay còn được gọi là di chúc hợp pháp, di chúc bằng miệng phải được ít nhất 02 người làm chứng theo như phân tích nêu trên (mục 1). Và người làm chứng trong quá trình lập di chúc miệng không thuộc một trong những trường hợp nêu trên.
Ngoài ra, di chúc bằng miệng sẽ chỉ được coi là hợp pháp nếu trong khoảng thời gian 05 ngày làm việc, thời gian này sẽ được tính kể từ ngày người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối, di chúc bằng miệng này phải được công chứng viên hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng thực tiến hành hoạt động công chứng hoặc chứng thực chữ ký, điểm chỉ của người làm chứng và của người lập di chúc (khoản 5 Điều 630 của Bộ luật Dân sự năm 2015). Như vậy có thể nói, bên cạnh người làm chứng thì hoạt động công chứng cũng được coi là một trong những điều kiện để di chúc bằng miệng được coi là di chúc hợp pháp theo quy định của pháp luật hiện nay.
3. Các rủi ro pháp lý thường gặp khi lập di chúc miệng:
Mặc dù được pháp luật thừa nhận như một hình thức di chúc hợp pháp trong những trường hợp đặc biệt, di chúc miệng lại là loại di chúc tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý nhất. Trong thực tiễn xét xử các vụ án tranh chấp thừa kế, di chúc miệng thường là đối tượng bị tranh cãi gay gắt và có tỷ lệ bị tuyên vô hiệu cao; do rất khó đáp ứng đầy đủ và chính xác các điều kiện luật định. Những rủi ro phổ biến có thể phân tích như sau:
3.1. Rủi ro về điều kiện lập di chúc miệng không được chứng minh đầy đủ:
Pháp luật chỉ cho phép lập di chúc miệng khi người lập di chúc đang trong tình trạng tính mạng bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản. Tuy nhiên trên thực tế, việc chứng minh tình trạng này là vô cùng khó khăn. Nếu không có hồ sơ y tế, xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh hoặc chứng cứ khách quan khác… thì Tòa án rất dễ kết luận rằng điều kiện lập di chúc miệng chưa thực sự phát sinh, từ đó không công nhận giá trị pháp lý của di chúc.
3.2. Không bảo đảm số lượng và tư cách hợp pháp của người làm chứng:
Một trong những rủi ro nghiêm trọng nhất là không đủ ít nhất hai người làm chứng hợp lệ theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Trong nhiều trường hợp, người làm chứng lại chính là người được hưởng di sản, người có quan hệ lợi ích trực tiếp hoặc người không đủ năng lực hành vi dân sự. Khi đó dù nội dung di chúc có phản ánh đúng ý chí của người để lại di sản, di chúc miệng vẫn có thể bị tuyên vô hiệu do vi phạm điều kiện về chủ thể làm chứng.
3.3. Rủi ro do việc ghi chép, xác nhận nội dung di chúc không đầy đủ:
Sau khi người lập di chúc thể hiện ý chí bằng lời nói, người làm chứng có trách nhiệm ghi chép lại toàn bộ nội dung di chúc và cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Tuy nhiên, do tính chất khẩn cấp của việc lập di chúc miệng nên việc ghi chép thường mang tính sơ sài, thiếu chi tiết và không xác định rõ tài sản, người thừa kế, phạm vi di sản hoặc tỷ lệ phân chia. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc xác định chính xác nội dung di chúc và tạo ra khoảng trống pháp lý dễ phát sinh tranh chấp.
3.4. Không thực hiện công chứng, chứng thực đúng thời hạn luật định:
Pháp luật yêu cầu, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ thời điểm lập di chúc miệng, người làm chứng phải tiến hành thủ tục công chứng hoặc chứng thực nội dung di chúc. Trên thực tế, rất nhiều trường hợp không thực hiện được yêu cầu này do người lập di chúc đã qua đời, người làm chứng không nắm rõ quy định pháp luật hoặc chủ quan cho rằng chỉ cần lời khai của nhân chứng là đủ. Việc không tuân thủ thời hạn này khiến di chúc miệng mất giá trị pháp lý dù nội dung có thể hoàn toàn hợp lý.
3.5. Khó chứng minh trạng thái tinh thần và ý chí tự nguyện của người lập di chúc:
Khác với di chúc bằng văn bản có công chứng, di chúc miệng không có cơ chế kiểm tra khách quan về năng lực hành vi dân sự và trạng thái tinh thần của người lập di chúc tại thời điểm lập. Khi xảy ra tranh chấp, các bên thường cho rằng người lập di chúc không minh mẫn, bị ép buộc hoặc bị tác động tâm lý. Trong trường hợp lời khai của người làm chứng mâu thuẫn hoặc không đủ thuyết phục thì Tòa án có cơ sở để không công nhận di chúc miệng.
Ngoài ra, do di chúc miệng tồn tại chủ yếu dưới dạng lời khai của nhân chứng nên nguy cơ bị bóp méo nội dung, thêm bớt ý chí hoặc dựng lên di chúc miệng không có thật… là rất lớn. Đây cũng là lý do khiến các cơ quan tiến hành tố tụng thường tiếp cận di chúc miệng với nguyên tắc thận trọng cao độ, từ đó đặt gánh nặng chứng minh lên người yêu cầu công nhận di chúc.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


