Di chúc là văn bản hoặc lời nói thể hiện ý chí của người lập di chúc về việc phân chia, chuyển giao tài sản của mình sau khi qua đời. Thông qua di chúc, người để lại di sản có quyền chỉ định người thừa kế, phân định phần di sản cho từng người, giao nghĩa vụ tài sản cho người thừa kế hoặc dành một phần tài sản cho việc thờ cúng, từ thiện... Vậy: Người đang đi tù thì có được lập di chúc thừa kế không?
Mục lục bài viết
1. Người đang đi tù thì có được lập di chúc thừa kế không?
Trước hết, Điều 14 Hiến pháp 2014 quy định:
- Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật;
- Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Bên cạnh đó, Điều 44 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về vấn đề tước một số quyền công dân. Theo đó, công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác trong những trường hợp do Bộ luật Hình sự 2015 quy định thì bị tước một hoặc một số quyền công dân sau đây:
- Quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực Nhà nước;
- Quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.
Ngoài ra, thời hạn tước một số quyền công dân là từ 01 năm đến 05 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù hoặc kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo.
Như vậy: Người nào vi phạm pháp luật mà phải chịu hình phạt tù chỉ bị hạn chế đi một số quyền nhất định nêu trên.
Hay nói cách khác, người đang đi tù vẫn hoàn toàn ĐƯỢC quyền lập di chúc để lại nguyện vọng cá nhân như những công dân khác.
2. Lập di chúc trong tù được thực hiện như thế nào?
Theo Điều 638 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực như sau:
- Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực;
- Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó;
- Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó;
- Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị;
- Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó;
- Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.
Đồng thời, Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 quy định nội dung của di chúc như sau:
- Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau: Ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản;
- Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 thì di chúc có thể có các nội dung khác;
- Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc;
- Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.
Như vậy: Di chúc của người đang chấp hành hình phạt tù phải:
- Có xác nhận của người phụ trách (quản giáo);
- Bản di chúc này cũng có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực.
Quy định về việc lập di chúc của người đang chấp hành hình phạt tù có xác nhận của người phụ trách cơ sở giam giữ thể hiện tính nhân văn và linh hoạt của pháp luật thừa kế. Trong điều kiện đặc thù khi người bị giam giữ không có khả năng tiếp cận dịch vụ công chứng/chứng thực, pháp luật vẫn tạo cơ chế để họ thực hiện đầy đủ quyền định đoạt tài sản của mình, bảo đảm quyền sở hữu và quyền tự do lập di chúc của cá nhân.
Việc công nhận di chúc có xác nhận của quản giáo hoặc người có thẩm quyền với giá trị pháp lý tương đương di chúc được công chứng, chứng thực cũng góp phần bảo đảm tính xác thực, minh bạch và an toàn pháp lý của di chúc. Sự xác nhận này giúp hạn chế rủi ro giả mạo, ép buộc hoặc tranh chấp về năng lực hành vi và ý chí tự nguyện của người lập di chúc trong môi trường giam giữ.
3. Lập di chúc trong tù cần những điều kiện gì để di chúc hợp pháp?
Điều 630 Bộ luật dân sự 2015 quy định di chúc hợp pháp như sau:
(1) Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
- Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
(2) Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
(3) Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
(4) Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự 2015.
(5) Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Theo đó, người đang đi tù lập di chúc thì bản di chúc đó cũng cần đáp ứng những điều kiện chung của di chúc hợp pháp. Cụ thể phải có đủ các điều kiện sau đây:
- Thứ nhất, di chúc hợp pháp phải là di chúc được lập bởi người có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Có nghĩa là chủ thể lập di chúc phải là người có năng lực hành vi dân sự thì mới đảm bảo được yếu tố hợp pháp của di chúc.Trường hợp người đó không có năng lực hành vi dân sự thì việc lập di chúc, quyền và nghĩa vụ của họ không được pháp luật ghi nhận là hợp pháp. Vì vậy, chủ thể lập di chúc phải là người có năng lực hành vi dân sự.
- Thứ hai, di chúc chỉ hợp pháp khi di chúc đó được lập bởi chính người để lại di sản. Bởi theo quy định của pháp luật di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm dịch chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi đã chết. Vì vậy, di chúc chỉ hợp pháp khi nó được lập bởi người để lại di sản.
- Thứ ba, di chúc thể hiện được đúng ý chí tự nguyện của người để lại di chúc mới là di chúc hợp pháp. Thực chất di chúc là phương tiện, hình thức biểu hiện ý chí của người lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Di chúc được coi là hợp pháp nếu thể hiện ý chí tự nguyện của người lập di chúc. Nếu di chúc có sự can thiệp tác động bởi chủ thể khác làm không thể hiện đúng nội dung ý chí của người để lại di chúc thì di chúc này sẽ bị vô hiệu.
- Thứ tư, nội dung và hình thức của di chúc phải đảm bảo theo quy định của pháp luật trong đó ghi nhận ý chí tự do định đoạt tài sản của chủ thể lập di chúc mà không có bất kì sự can thiệp trái phép nào. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc quyền định đoạt của chủ thể lập di chúc không bị sự ràng buộc bởi quy định pháp luật. Ý chí này của người lập di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội truyền thống tốt đẹp của dân tộc, lợi ích của nhà nước, lợi ích của công cộng và quyền lợi ích của các chủ thể khác. Do đó, nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không vi phạm đạo đức xã hội và nội dung này phải được thể hiện dưới một hình thức không trái quy định của pháp luật thì mới đảm bảo được tính hợp pháp.
- Thứ năm, di chúc hợp pháp chính là cơ sở để di chúc có hiệu lực khi người lập di chúc mất. Như vậy, khi người lập di chúc chết di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi nó có thể đáp ứng được các điều kiện quy định của luật về tính hợp pháp của di chúc. Vì vậy, nếu di chúc không hợp pháp thì chắc chắn di chúc đó không thì phát sinh hiệu lực và ý chí của người lập di chúc sẽ không thể được thực hiện trên thực tế.
Lưu ý: Di chúc là loại giao dịch dân sự không thể thực hiện thông qua người đại diện mà phải do chính người để lại di chúc tự mình xác lập thì mới đảm bảo được các yếu tố hợp pháp của di chúc và ý nghĩa của di chúc.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


