Trong thực tế, không ít trường hợp người để lại di sản đang điều trị tại bệnh viện, sức khỏe suy yếu hoặc không còn khả năng di chuyển để thực hiện các thủ tục công chứng theo cách thông thường. Vậy: Di chúc thừa kế được lập trong bệnh viện có hiệu lực không?
Mục lục bài viết
1. Di chúc thừa kế được lập trong bệnh viện có hiệu lực không?
Trong thực tế, nhiều trường hợp người để lại di sản đang điều trị tại bệnh viện, sức khỏe suy giảm hoặc không thể di chuyển đến tổ chức hành nghề công chứng để lập di chúc. Điều này khiến nhiều người băn khoăn: Di chúc thừa kế được lập trong bệnh viện có hiệu lực không?
Điều 638 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được công chứng hoặc chứng thực như sau:
- Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực;
- Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó;
- Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó;
- Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị;
- Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó;
- Di chúc của người đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó.
Như vậy: Trong trường hợp người bệnh có nhu cầu lập di chúc ngay tại bệnh viện và việc lập di chúc này được người phụ trách bệnh viện xác nhận theo đúng quy định thì di chúc đó vẫn được pháp luật công nhận và CÓ giá trị pháp lý như di chúc được công chứng hoặc chứng thực.
2. Di chúc thừa kế được lập trong bệnh viện có hiệu lực khi nào?
Trong trường hợp di chúc được lập trong bệnh viện, hiệu lực của di chúc sẽ phụ thuộc vào các quy định tại Điều 643 Bộ luật dân sự năm 2015. Hiệu lực của di chúc được xác định như sau:
(1) Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
(2) Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
- Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
- Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.
(3) Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
(4) Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.
(5) Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
Như vậy: Di chúc chỉ phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế, tức là thời điểm người để lại di sản chết (bao gồm cả di chúc được lập trong bệnh viện). Tuy nhiên, để di chúc thực sự có giá trị pháp lý và được thực hiện trên thực tế, nội dung và hình thức của di chúc phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện do Bộ luật Dân sự quy định.
Trường hợp di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần có thể xảy ra khi người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc khi cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế. Bên cạnh đó, nếu di sản được định đoạt trong di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì phần di chúc liên quan đến tài sản đó cũng không có hiệu lực. Tuy nhiên, trong trường hợp di sản chỉ còn lại một phần thì phần di chúc tương ứng với phần di sản còn lại vẫn tiếp tục có hiệu lực.
Ngoài ra, nếu di chúc có một hoặc một số nội dung không hợp pháp nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của các nội dung còn lại thì chỉ phần không hợp pháp đó bị vô hiệu; các phần hợp pháp khác của di chúc vẫn được công nhận. Trường hợp người để lại di sản lập nhiều bản di chúc đối với cùng một tài sản thì chỉ bản di chúc được lập sau cùng mới có hiệu lực thi hành.
Từ những phân tích, để bảo đảm hiệu lực của di chúc được lập trong bệnh viện, người lập di chúc cần đặc biệt lưu ý việc tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc; đồng thời bảo đảm việc xác nhận của người phụ trách bệnh viện đúng thẩm quyền và xác định rõ thời điểm mở thừa kế. Điều này giúp di chúc được công nhận và hạn chế tối đa tranh chấp phát sinh sau này.
3. Lưu ý khi lập di chúc thừa kế trong bệnh viện:
Việc lập di chúc thừa kế trong bệnh viện là giải pháp cần thiết trong những trường hợp đặc biệt, khi người để lại di sản không đủ điều kiện di chuyển hoặc không thể thực hiện thủ tục công chứng theo cách thông thường. Tuy nhiên, để di chúc này được công nhận hợp pháp và hạn chế tối đa rủi ro tranh chấp, người lập di chúc và gia đình cần lưu ý một số vấn đề quan trọng sau đây (Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015):
Thứ nhất, bảo đảm người lập di chúc minh mẫn và sáng suốt tại thời điểm lập di chúc. Đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực của di chúc. Trong môi trường bệnh viện, tình trạng sức khỏe của người lập di chúc thường không ổn định, dễ phát sinh tranh chấp về năng lực nhận thức. Do đó, cần lập di chúc vào thời điểm người bệnh tỉnh táo, có thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; đồng thời nên thể hiện rõ tình trạng này trong nội dung xác nhận của người phụ trách bệnh viện.
Thứ hai, bảo đảm việc lập di chúc hoàn toàn tự nguyện. Di chúc chỉ có giá trị khi được lập trên cơ sở ý chí tự nguyện của người để lại di sản, không bị lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép. Trong bối cảnh bệnh viện, sự tác động từ người thân hoặc người chăm sóc rất dễ xảy ra, vì vậy cần hạn chế tối đa sự can thiệp của người khác khi người bệnh thể hiện ý chí lập di chúc.
Thứ ba, bảo đảm đúng hình thức và nội dung theo quy định pháp luật. Di chúc cần được lập thành văn bản, ghi đầy đủ các nội dung cơ bản như: thông tin người lập di chúc, người được hưởng di sản, tài sản để lại, cách phân chia di sản và thời điểm lập di chúc… Nội dung di chúc không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và hình thức lập di chúc phải phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
Thứ tư, phải có xác nhận của người phụ trách bệnh viện hoặc cơ sở chữa bệnh. Việc xác nhận của người phụ trách bệnh viện là điều kiện quan trọng để di chúc lập trong bệnh viện có giá trị pháp lý như di chúc được công chứng hoặc chứng thực. Xác nhận này cần thể hiện rõ thông tin người lập di chúc, thời điểm lập di chúc và việc người lập di chúc đang điều trị tại bệnh viện, đồng thời bảo đảm người xác nhận đúng thẩm quyền.
Thứ năm, nên có người làm chứng để tăng giá trị chứng minh của di chúc. Mặc dù pháp luật không bắt buộc phải có người làm chứng trong mọi trường hợp nhưng việc có người làm chứng sẽ giúp củng cố giá trị pháp lý của di chúc, đặc biệt khi phát sinh tranh chấp về sau. Người làm chứng phải đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định pháp luật và không thuộc các trường hợp bị cấm làm chứng cho việc lập di chúc (Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015).
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


