Trong thực tiễn đời sống, thừa kế là quan hệ pháp lý gắn liền với quyền tài sản và tình cảm gia đình, vì vậy rất dễ phát sinh tranh chấp. Đặc biệt, tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng ngày càng phổ biến và thường có tính chất phức tạp, kéo dài, gây mâu thuẫn sâu sắc giữa những người thân thích. Vậy: Thủ tục tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng được quy định như thế nào?
Mục lục bài viết
- 1 1. Các dạng tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng thường gặp:
- 1.1 1.1. Tranh chấp về tính hợp pháp của di chúc miệng:
- 1.2 1.2. Tranh chấp giữa người thừa kế theo di chúc miệng và người thừa kế theo pháp luật:
- 1.3 1.3. Tranh chấp về nội dung phân chia di sản theo di chúc miệng:
- 1.4 1.4. Tranh chấp về người làm chứng cho di chúc miệng:
- 1.5 1.5. Tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện đúng thủ tục sau khi lập di chúc miệng:
- 2 2. Bản án điển hình về tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng:
- 3 3. Thủ tục giải quyết tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng:
- 4 4. Cách Tòa án xem xét và đánh giá di chúc miệng khi có tranh chấp:
1. Các dạng tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng thường gặp:
Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di chúc miệng như sau:
- Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng;
- Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
Đồng thời, khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng là một trong những loại tranh chấp phức tạp nhất trong lĩnh vực dân sự. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc di chúc miệng không tồn tại dưới dạng văn bản nên giá trị chứng minh phụ thuộc rất lớn vào lời khai của người làm chứng và các chứng cứ gián tiếp. Trên thực tế, các tranh chấp dạng này thường xoay quanh những nhóm vấn đề pháp lý sau:
1.1. Tranh chấp về tính hợp pháp của di chúc miệng:
Đây là dạng tranh chấp phổ biến nhất khi có di chúc miệng. Một hoặc nhiều người thừa kế không thừa nhận giá trị pháp lý của di chúc miệng và yêu cầu Tòa án tuyên di chúc vô hiệu. Các nội dung tranh chấp thường tập trung vào:
- Tranh chấp về hoàn cảnh lập di chúc miệng: Pháp luật chỉ cho phép lập di chúc miệng trong trường hợp người để lại di sản đang trong tình trạng tính mạng bị đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản. Trên thực tế, nhiều tranh chấp phát sinh do các bên không thống nhất được việc người chết có thực sự ở trong tình trạng nguy cấp hay không; hay vẫn còn đủ thời gian, điều kiện để lập di chúc bằng văn bản…;
- Tranh chấp về năng lực hành vi dân sự của người lập di chúc: Một bên cho rằng người lập di chúc miệng tại thời điểm đó không còn minh mẫn và không làm chủ được hành vi (do bệnh tật, tuổi cao, tác động tâm lý…), từ đó phủ nhận ý chí tự nguyện khi lập di chúc;
- Tranh chấp về điều kiện hình thức của di chúc miệng: Di chúc miệng chỉ được công nhận hợp pháp nếu có ít nhất 02 người làm chứng, những người này phải ghi chép lại nội dung di chúc và thực hiện thủ tục công chứng/chứng thực theo đúng thời hạn luật định. Chỉ cần thiếu một trong các điều kiện này, di chúc miệng có thể bị tuyên vô hiệu và đây chính là vấn đề điển hình thường bị các bên tranh chấp sử dụng.
Trong trường hợp Tòa án xác định di chúc miệng không đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp luật, di sản sẽ không được chia theo nội dung di chúc mà chuyển sang chia thừa kế theo pháp luật.
1.2. Tranh chấp giữa người thừa kế theo di chúc miệng và người thừa kế theo pháp luật:
Một dạng tranh chấp rất thường gặp là xung đột quyền lợi giữa người được chỉ định hưởng di sản theo di chúc miệng và những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật (vợ, chồng, con, cha mẹ…). Các tranh chấp này thường xuất phát từ:
- Người được cho là hưởng di sản theo di chúc miệng không thuộc hàng thừa kế theo pháp luật hoặc chỉ có quan hệ xã hội, chăm sóc, nuôi dưỡng người chết;
- Di chúc miệng làm thay đổi hoàn toàn cách phân chia di sản so với quy định thừa kế theo pháp luật, từ đó dẫn đến việc những người thân thích trực hệ bị giảm hoặc mất quyền hưởng di sản;
- Tranh chấp về phần di sản bắt buộc, khi người thuộc diện được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc cho rằng di chúc miệng đã xâm phạm quyền lợi hợp pháp của họ.
Trong các trường hợp này, Tòa án phải đồng thời sẽ xem xét:
- Tính hợp pháp của di chúc miệng (khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015);
- Quyền của người thừa kế theo pháp luật;
- Quy định về phần di sản bắt buộc theo Bộ luật Dân sự 2015.
1.3. Tranh chấp về nội dung phân chia di sản theo di chúc miệng:
Ngay cả khi các bên thống nhất rằng có tồn tại di chúc miệng, tranh chấp vẫn có thể phát sinh xoay quanh nội dung cụ thể của di chúc. Nguyên nhân chủ yếu bao gồm:
- Lời khai của những người làm chứng không thống nhất về nội dung di chúc, dẫn đến mâu thuẫn về việc ai được hưởng di sản, hưởng bao nhiêu hoặc điều kiện kèm theo là gì;
- Di chúc miệng chỉ thể hiện ý chí chung chung (ví dụ: “để lại tài sản cho con cả quản lý”…), không xác định rõ phạm vi di sản, tỷ lệ phân chia hoặc quyền sở hữu, từ đó gây khó khăn trong quá trình thực hiện;
- Tranh chấp phát sinh khi di sản bao gồm nhiều loại tài sản khác nhau (nhà đất, tiền, tài sản chung, tài sản riêng) nhưng di chúc miệng không làm rõ đối tượng di sản.
Trong những trường hợp này, Tòa án thường phải đánh giá toàn diện chứng cứ, lời khai, hoàn cảnh thực tế để xác định ý chí đích thực của người để lại di sản hoặc có thể tuyên di chúc miệng không đủ rõ ràng để thực hiện.
1.4. Tranh chấp về người làm chứng cho di chúc miệng:
Người làm chứng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong di chúc miệng. Do đó, tranh chấp liên quan đến người làm chứng là dạng tranh chấp mang tính kỹ thuật pháp lý cao. Các tranh chấp thường gặp gồm:
- Tranh chấp về tư cách hợp lệ của người làm chứng: Một bên cho rằng người làm chứng không đủ điều kiện theo quy định (ví dụ: là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015);
- Tranh chấp về tính khách quan, trung thực của lời làm chứng: Các bên cho rằng người làm chứng có mối quan hệ thân thiết, phụ thuộc hoặc có lợi ích trực tiếp với người được hưởng di sản, dẫn đến việc lời khai không khách quan;
- Tranh chấp về số lượng và sự thống nhất của người làm chứng: Việc thiếu người làm chứng hoặc lời khai giữa các người làm chứng mâu thuẫn nhau, là căn cứ phổ biến để yêu cầu Tòa án không công nhận di chúc miệng;
- Trong thực tiễn xét xử, nếu lời làm chứng không bảo đảm tính thống nhất, rõ ràng và khách quan thì giá trị chứng minh của di chúc miệng sẽ bị giảm đáng kể, thậm chí không được công nhận.
1.5. Tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện đúng thủ tục sau khi lập di chúc miệng:
Ngoài các tranh chấp nêu trên, còn có những tranh chấp phát sinh do không tuân thủ đầy đủ trình tự và thủ tục pháp luật sau khi di chúc miệng được lập, như:
- Không ghi chép lại nội dung di chúc miệng trong thời hạn luật định;
- Không thực hiện công chứng hoặc chứng thực theo quy định;
- Cố ý che giấu hoặc có hành vi tiêu hủy bản ghi chép di chúc miệng.
Những vi phạm này thường bị sử dụng làm căn cứ để yêu cầu Tòa án tuyên di chúc miệng vô hiệu và giải quyết thừa kế theo pháp luật.
2. Bản án điển hình về tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng:
- Tên bản án:
Bản án về tranh chấp chia thừa kế tài sản, yêu cầu tuyên bố di chúc miệng vô hiệu, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 493/2024/DS-PT ngày 06/09/2024 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội.
- Tóm tắt nội dung bản án liên quan đến di chúc miệng:
Cụ C3 qua đời ngày 28/10/1999. Trước khi chết, cụ C3 bị ốm nặng nhưng vẫn minh mẫn và có khả năng thể hiện ý chí. Theo lời khai của bà C1 (con dâu, người ở cùng cụ), cụ C3 từng nhiều lần bày tỏ ý định cho cháu nội là anh Q thửa đất số 184, do cụ đã nộp tiền mua cho UBND xã L nhưng chưa được giao đất vì thủ tục chưa hoàn tất.
Lời khai của bà C1 phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Anh T5 (nguyên Chủ tịch UBND xã L), ông Nguyễn Văn T6 (nguyên Phó Chủ tịch UBND xã L) và ông Nguyễn Đức H4 (nguyên cán bộ Văn phòng UBND xã L). Các ông đều xác nhận: Ngày 16/10/1999, đoàn công tác UBND xã L đến thăm cụ C3 khi cụ đang ốm nặng. Tại thời điểm này, cụ C3 vẫn tỉnh táo và trực tiếp bày tỏ ý chí rằng nếu còn sống thì sẽ tự nhận đất, còn nếu qua đời thì đề nghị UBND xã gọi bà C1 hoặc anh Q đến nhận đất và sau khi hoàn tất thủ tục cấp Giấy chứng nhận thì chuyển tên cho anh Q, vì cụ cho anh Q thửa đất này.
Ngày 18/10/1999, ông T5 là người trực tiếp ghi lại nội dung di chúc miệng của cụ C3; ông T6 và ông H4 là những người có mặt khi cụ C3 di chúc miệng và cùng ký xác nhận vào “Bản ghi lại di chúc miệng”. Tại thời điểm đó, cả ba đều là cán bộ UBND xã L, không thuộc trường hợp bị cấm làm chứng theo Bộ luật Dân sự năm 1995. Do đó, việc làm chứng và ghi chép di chúc miệng được xác định là khách quan, đúng quy định pháp luật. Bản ghi di chúc còn được đóng dấu xác nhận của UBND xã L và ký bởi Chủ tịch UBND xã.
Nguyên đơn cho rằng bản ghi di chúc miệng được lập sau nhiều năm nên đề nghị giám định tuổi mực. Tuy nhiên, Kết luận giám định số 46/2023/TTTVGĐDS ngày 12/9/2023 xác định bản ghi di chúc miệng được viết vào khoảng tháng 10/1999, phù hợp với thời điểm cụ C3 di chúc miệng.
Từ các chứng cứ và lời khai nêu trên, Tòa án có căn cứ xác định trước khi chết cụ C3 đã để lại di chúc miệng hợp pháp vào ngày 16/10/1999; việc ghi chép, làm chứng và xác nhận di chúc đều đúng quy định pháp luật, phản ánh đúng ý chí của cụ C3. Theo nội dung di chúc, cụ C3 định đoạt phần quyền của mình đối với thửa đất số 184 cho anh Q.
- Nhận định của Tòa án:
Tòa án cấp sơ thẩm công nhận di chúc miệng của cụ C3 là hợp pháp, chia di sản theo di chúc và không chấp nhận yêu cầu của bà C1 về việc tuyên bố bản ghi di chúc miệng vô hiệu.
3. Thủ tục giải quyết tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng:
Giải quyết tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng là một quá trình tố tụng dân sự phức tạp, bởi Tòa án không chỉ xem xét quan hệ thừa kế, mà còn phải đánh giá giá trị pháp lý của một loại di chúc đặc biệt – di chúc miệng. Do đó, việc nắm rõ thủ tục giải quyết tranh chấp có ý nghĩa quyết định đối với quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
4.1. Xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế:
Việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết là bước đầu tiên và bắt buộc khi phát sinh tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng.
a. Thẩm quyền theo loại việc:
Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; trong đó có tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự (khoản 3).
Tranh chấp thừa kế (trong đó bao gồm tranh chấp liên quan đến di chúc miệng) thuộc tranh chấp dân sự và được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự tại Tòa án. Các yêu cầu thường được đặt ra trong vụ án bao gồm:
- Yêu cầu công nhận hoặc tuyên bố di chúc miệng vô hiệu;
- Yêu cầu xác định người thừa kế;
- Yêu cầu chia di sản thừa kế;
- Yêu cầu bảo toàn, quản lý hoặc định đoạt di sản.
b. Thẩm quyền theo cấp Tòa án:
Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định: Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; giải quyết những yêu cầu quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 2 Điều 37 của Bộ luật này.
Như vậy, Tòa án nhân dân cấp khu vực là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế.
c. Thẩm quyền theo lãnh thổ:
Tòa án có thẩm quyền giải quyết là:
- Tòa án nơi có bất động sản nếu di sản thừa kế là nhà đất;
- Trường hợp di sản là động sản thì Tòa án nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản hoặc nơi bị đơn cư trú.
Việc xác định sai thẩm quyền có thể dẫn đến việc đơn khởi kiện bị trả lại và làm kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp.
3.2. Hồ sơ khởi kiện tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng:
Do tính chất đặc thù của di chúc miệng, hồ sơ khởi kiện trong các vụ án này thường phức tạp và đòi hỏi phải chuẩn bị kỹ lưỡng.
a. Đơn khởi kiện tranh chấp thừa kế:
Đơn khởi kiện phải thể hiện rõ:
- Thông tin người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- Nội dung tranh chấp (tranh chấp di chúc miệng, tranh chấp chia di sản…);
- Yêu cầu cụ thể đối với Tòa án (công nhận/không công nhận di chúc miệng, chia di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật…);
- Căn cứ pháp lý và căn cứ thực tế của yêu cầu khởi kiện.
b. Tài liệu, chứng cứ kèm theo:
Các giấy tờ thường phải cung cấp bao gồm:
- Giấy chứng tử của người để lại di sản;
- Giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế (giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, sổ hộ khẩu…);
- Tài liệu chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với di sản (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy đăng ký tài sản…);
- Bản ghi chép nội dung di chúc miệng;
- Văn bản công chứng/chứng thực (nếu có);
- Lời khai, xác nhận của người làm chứng;
- Tài liệu y tế, hồ sơ bệnh án của người lập di chúc (nếu tranh chấp về năng lực hành vi).
3.3. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại Tòa án:
Quá trình giải quyết tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng tại Tòa án được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Nộp đơn và thụ lý vụ án.
Sau khi nhận đơn khởi kiện và hồ sơ kèm theo, Tòa án xem xét:
- Đơn có đủ điều kiện thụ lý hay không;
- Vụ việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không.
- Nếu đủ điều kiện thì Tòa án sẽ ra thông báo nộp tạm ứng án phí và tiến hành thụ lý vụ án.
Bước 2: Giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Trong giai đoạn này, Tòa án thực hiện:
- Thu thập, xác minh chứng cứ;
- Lấy lời khai của các bên đương sự và người làm chứng;
- Trưng cầu giám định (nếu cần), ví dụ giám định chữ viết trong bản ghi chép di chúc miệng;
- Định giá di sản thừa kế.
Đối với di chúc miệng thì đây là giai đoạn đặc biệt quan trọng vì Tòa án sẽ tập trung làm rõ hoàn cảnh lập di chúc, tính hợp pháp và giá trị chứng minh của lời làm chứng.
Bước 3: Hòa giải.
Hòa giải là thủ tục bắt buộc (trừ trường hợp không hòa giải được theo luật định). Trong nhiều vụ tranh chấp thừa kế, hòa giải thành giúp:
- Giảm căng thẳng mâu thuẫn gia đình;
- Tiết kiệm thời gian, chi phí tố tụng;
- Đảm bảo quyền lợi hài hòa cho các bên.
Nếu hòa giải thành và được Tòa án công nhận, vụ án kết thúc mà không cần xét xử.
Bước 4: Xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.
- Trường hợp hòa giải không thành, Tòa án mở phiên tòa xét xử sơ thẩm;
- Bản án sơ thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nếu các bên không đồng ý với kết quả giải quyết.
4. Cách Tòa án xem xét và đánh giá di chúc miệng khi có tranh chấp:
Khi giải quyết tranh chấp thừa kế liên quan đến di chúc miệng, Tòa án không chỉ dừng lại ở việc xác định có hay không tồn tại di chúc mà còn phải đánh giá toàn diện giá trị pháp lý và giá trị chứng minh của di chúc miệng. Do đặc thù không có hình thức văn bản ngay từ đầu nên việc xem xét di chúc miệng luôn được đặt dưới sự kiểm tra chặt chẽ, nghiêm ngặt hơn so với di chúc bằng văn bản. Cụ thể như sau:
4.1. Nguyên tắc chung trong việc đánh giá di chúc miệng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc tôn trọng ý chí của người để lại di sản: Mục tiêu cao nhất của việc giải quyết tranh chấp thừa kế là xác định và bảo vệ ý chí thực sự của người đã chết nếu ý chí đó được thể hiện hợp pháp;
- Nguyên tắc thận trọng và suy đoán hạn chế đối với di chúc miệng: Do di chúc miệng dễ bị xuyên tạc, bịa đặt hoặc chịu tác động chủ quan từ người làm chứng, Tòa án thường đánh giá di chúc miệng theo hướng thận trọng, yêu cầu mức độ chứng minh cao;
- Nguyên tắc chứng minh thuộc về người yêu cầu công nhận di chúc miệng: Người cho rằng di chúc miệng là hợp pháp và có hiệu lực phải có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh đầy đủ các điều kiện luật định.
4.2. Xem xét hoàn cảnh và điều kiện lập di chúc miệng:
Một trong những nội dung đầu tiên Tòa án xem xét là hoàn cảnh thực tế tại thời điểm lập di chúc miệng. Tòa án sẽ đánh giá:
- Người để lại di sản có đang ở trong tình trạng tính mạng bị đe dọa hay không;
- Có tồn tại tình huống khẩn cấp khiến người đó không thể lập di chúc bằng văn bản;
- Thời điểm lập di chúc miệng có sát với thời điểm người đó qua đời hay không.
Để làm rõ các vấn đề này, Tòa án thường căn cứ vào:
- Hồ sơ bệnh án, giấy ra viện và kết luận y khoa;
- Lời khai của người thân và những người chăm sóc;
- Thời gian, địa điểm và diễn biến cụ thể của sự việc lập di chúc.
Nếu không chứng minh được hoàn cảnh khẩn cấp đúng theo quy định pháp luật thì di chúc miệng đó sẽ có nguy cơ không được công nhận.
4.3. Đánh giá năng lực hành vi và sự tự nguyện của người lập di chúc:
Tòa án đặc biệt chú trọng việc xác định người lập di chúc miệng có minh mẫn, sáng suốt và tự nguyện hay không tại thời điểm thể hiện ý chí. Các yếu tố thường được xem xét gồm:
- Tình trạng sức khỏe, bệnh lý, khả năng nhận thức;
- Ảnh hưởng của thuốc, điều trị y tế;
- Có hay không dấu hiệu bị ép buộc, đe dọa, lừa dối.
Chứng cứ được Tòa án đánh giá bao gồm:
- Hồ sơ y tế, ý kiến của bác sĩ điều trị;
- Lời khai của người làm chứng trực tiếp;
- Lời khai của những người có mặt tại thời điểm lập di chúc.
Trong trường hợp có căn cứ cho rằng người lập di chúc không đủ năng lực hành vi hoặc không tự nguyện, Tòa án có thể tuyên di chúc miệng vô hiệu toàn bộ hoặc một phần.
4.4. Xem xét tư cách, số lượng và lời khai của người làm chứng:
Người làm chứng là yếu tố then chốt quyết định giá trị chứng minh của di chúc miệng. Do đó Tòa án xem xét rất kỹ các nội dung liên quan đến người làm chứng.
a. Tư cách hợp lệ của người làm chứng:
Tòa án sẽ xác định:
- Người làm chứng có đủ năng lực hành vi dân sự hay không;
- Người làm chứng có thuộc trường hợp bị cấm làm chứng (người thừa kế, người có quyền lợi liên quan…) hay không;
- Nếu người làm chứng không hợp lệ, di chúc miệng có thể bị tuyên vô hiệu ngay từ đầu.
b. Số lượng và tính thống nhất của người làm chứng:
Di chúc miệng phải có ít nhất 02 người làm chứng. Ngoài số lượng người làm chứng thì Tòa án còn đánh giá:
- Sự thống nhất trong lời khai giữa các người làm chứng;
- Mức độ chi tiết, logic và phù hợp với diễn biến thực tế.
- Những mâu thuẫn lớn trong lời khai thường làm giảm đáng kể giá trị chứng minh của di chúc miệng…
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


