Hạn chế trong quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại theo Điều 623

Bài viết nói về một số hạn chế trong các quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra quy định tại Điều 623 BLDS.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

 

Quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được quy định cụ thể tại Điều 623 BLDS năm 2005. Tuy nhiên, những quy định này vẫn tồn tại một số hạn chế sau:

Thứ nhất, về khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ. Theo khoản 1 Điều 623  BLDS năm 2005 thì chỉ đưa ra định nghĩa khái quát về nguồn nguy hiểm cao độ mà chỉ có quy định mang tính chất liệt kê. Theo đó, khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ chỉ dừng lại ở việc liệt kê các nguồn nguy hiểm cao độ, việc này đã nảy sinh rất nhiều hạn chế, khó khăn trong việc áp dụng luật.

Thứ hai, về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Hiện nay, cả BLDS năm 2005 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP đã quy định về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng chưa có quy định nào về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, cũng chưa có sự phân định cụ thể khi nào áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của con người, và khi nào áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng không thống nhất trên thực tế, đặc biệt là cho cơ quan xét xử.

Thứ ba, văn bản áp dụng luật chưa thật sự rõ ràng dẫn đến áp dụng sai hoặc thiếu. Cụ thể, có một số điểm của  Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Khi xác định điều kiện áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong trường hợp: “xe ô tô đang tham gia giao thông theo đúng quy định của pháp luật thì bất ngờ có người lao vào tự tử và hậu quả là người này bị thương hoặc bị chết”. Theo TS. Nguyễn Thị Hải Yến – Trường Đại học Luật Hà Nội thì “ví dụ này có thể dẫn đến cách hiểu loại trừ trường hợp người bị thiệt hại cố ý lao vào xe tự tử thì mọi thiệt hại do ô tô gây ra đều áp dụng trách nhệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra”. Ngoài ra, cũng theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, “trong trường hợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không đúng theo quy định của pháp luật mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại. Ví dụ: chủ sở hữu biết người đó không có bằng lái xe ô tô nhưng vẫn giao quyền chiếm hữu, sử dụng cho họ mà gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại”. Lẽ ra, trong trường hợp này phải áp dụng đoạn 2 khoản 4 Điều 623 BLDS: “Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 1900.6568

Thứ tư, đoạn 2 Khoản 1 Điều 623 “Bộ luật dân sự 2015” quy định: “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân theo các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có một hướng dẫn cụ thể thế nào là bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo quy định của pháp luật, điều này xảy ra các tranh cãi khi căn cứ vào quy định này để xác định trách nhiệm của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ và bản thân điều luật này không đặt ra trách nhiệm đối với người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ là chưa đầy đủ. Chính vì vậy nên đã có rất nhiều vụ tai nạn thương tâm xảy ra nhưng chính quyền lại lúng túng trong việc xác định trách nhiệm của chủ sở hữu.

Ngoài ra, trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ trong tự nhiên gây thiệt hại thì ai bồi thường? Theo quy định hiện nay, những tài sản như vậy là một loại tài nguyên thiên nhiên và là tài sản thuộc sở hữu nhà nước, thuộc sự quản lý của bộ, ngành có liên quan. Tuy nhiên, trên thực tế, chưa có văn bản nào quy định cơ quan quản lý Nhà nước phải bồi thường. Chính vì thế, trong những trường hợp này, không ai phải chịu trách nhiệm bồi thường, người bị thiệt hại phải chịu rủi ro, điều này chưa hợp lý.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo