Trong nhiều vụ việc thừa kế, tranh chấp thường phát sinh không chỉ từ việc xác định ai là người được hưởng di sản mà còn từ thời điểm thực hiện quyền yêu cầu chia di sản. Có những trường hợp người thừa kế để kéo dài thời gian quá lâu mới tiến hành khởi kiện dẫn đến những vướng mắc về mặt pháp lý liên quan đến thời hiệu, làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vậy: Thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bao nhiêu lâu?
Mục lục bài viết
1. Thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bao nhiêu lâu?
Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các loại thời hiệu như sau:
- Thời hiệu hưởng quyền dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự;
- Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn việc thực hiện nghĩa vụ;
- Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện;
- Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu.
Thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế được hiểu là khoảng thời gian do pháp luật quy định mà trong thời hạn đó, người có quyền thừa kế được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thừa kế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định giới hạn thời gian thực hiện quyền khởi kiện, bảo đảm sự ổn định của các quan hệ tài sản và hạn chế tình trạng tranh chấp kéo dài.
Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thời hiệu thừa kế như sau:
(1) Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
- Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật Dân sự 2015;
- Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.
(2) Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. (3) Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Ngoài ra, khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự 2015.
Như vậy: Thời hiệu để người thừa kế khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế được xác định khác nhau tùy theo loại tài sản. Cụ thể:
- 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm người có tài sản qua đời;
- 10 năm đối với động sản kể từ thời điểm người có tài sản qua đời.
2. Những thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế:
Căn cứ Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự. Theo đó, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
- Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;
- Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây: Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân;Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.
Như vậy, các khoảng thời gian không được tính vào thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là những khoảng thời gian vì những lý do khách quan hoặc tình trạng pháp lý đặc biệt của chủ thể mà người có quyền khởi kiện không thể thực hiện quyền của mình trong phạm vi thời hiệu theo quy định của pháp luật. Cụ thể bao gồm các trường hợp sau:
- Thứ nhất, thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khiến người có quyền khởi kiện hoặc quyền yêu cầu không thể thực hiện việc khởi kiện hoặc yêu cầu trong thời hạn luật định. Sự kiện bất khả kháng có thể là những tình huống ngoài ý muốn, không thể lường trước và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết; còn trở ngại khách quan là những hoàn cảnh thực tế làm cho chủ thể không thể thực hiện quyền của mình.
- Thứ hai, thời gian người có quyền khởi kiện là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nhưng chưa có người đại diện hợp pháp để thay mặt thực hiện quyền khởi kiện.
- Thứ ba, thời gian người có quyền khởi kiện thuộc các trường hợp nêu trên mà người đại diện hợp pháp đã chấm dứt việc đại diện nhưng chưa có người đại diện mới thay thế theo quy định pháp luật dẫn đến việc không thể thực hiện quyền khởi kiện trong thời hiệu.
Việc loại trừ các khoảng thời gian này khỏi thời hiệu nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của chủ thể, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người không có đủ điều kiện pháp lý hoặc khách quan để thực hiện quyền khởi kiện trong thời hạn thông thường.
3. Hết thời hiệu khởi kiện, có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế nữa không?
Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự như sau:
- Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự;
- Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc;
- Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
Như vậy, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản được xác định là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản tính từ thời điểm mở thừa kế, tức là thời điểm người để lại di sản chết (mục 1). Trong khoảng thời gian này, người thừa kế có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc phân chia di sản nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định nguyên tắc áp dụng thời hiệu trong tố tụng dân sự, theo đó: Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu khi có yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, và yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc. Điều này có nghĩa là Tòa án không mặc nhiên áp dụng thời hiệu mà sẽ phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia tố tụng (khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nêu trên),
Do đó, mặc dù thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế đã hết nhưng nếu các bên liên quan không yêu cầu áp dụng thời hiệu thì Tòa án vẫn CÓ THỂ xem xét giải quyết việc chia di sản theo quy định pháp luật. Nói cách khác, việc hết thời hiệu không đồng nghĩa với việc bị mất quyền yêu cầu chia di sản trong mọi trường hợp.
Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, việc từ chối này không được nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


