Quyền lợi người lao động được hưởng khi chấm dứt hợp đồng lao động?
Bạn đang xem bài viết: Quyền lợi người lao động được hưởng khi chấm dứt hợp đồng lao động

Quyền lợi người lao động được hưởng khi chấm dứt hợp đồng lao động

Quyền lợi người lao động được hưởng khi chấm dứt hợp đồng lao động. Những thủ tục để xin nghỉ việc của người lao động.


Tóm tắt câu hỏi:

Kính chào luật gia! Tôi làm nhân viên hợp đồng trong Ban Tuyên giáo Huyện ủy từ tháng 5/2013 đến nay. Hiện tại tôi muốn xin nghỉ việc. Tôi có đóng bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm thất nghiệp thất nghiệp đóng từ đầu năm 2016. Bây giờ tôi cần làm những thủ tục gì để xin nghỉ việc, và quyền lợi tôi được hưởng? Cảm ơn luật gia!

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Điều 37 Bộ luật lao động 2012 quy định:

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp, bạn làm việc theo hợp đồng từ năm 2013, nay muốn chấm dứt hợp đồng thì bạn phải đáp ứng các điều kiện thuộc một trong các trường hợp nêu trên. Về quyền lợi của bạn khi nghỉ việcĐiều 48 Bộ luật lao động 2012 quy định

"Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc."

Như vậy, khi nghỉ việc, bạn sẽ được người sử dụng lao động thanh toán trợ cấp thôi việc cho thời gian làm việc từ tháng 5 năm 2013 đến hết năm 2015 (do đến năm 2016 bạn mới được tham gia bảo hiểm thất nghiệp), tiền lương để tính trợ cấp thôi việc cho bạn là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi bạn nghỉ việc. 

quyen-loi-nguoi-lao-dong-duoc-huong-khi-cham-dut-hop-dong-lao-dong

>>> Luật sư tư vấn pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động qua tổng đài: 1900.6568

Về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp: 

Điều 49 Luật Việc làm 2013 quy định về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp:

“Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.”

Theo quy định của Khoản 2 Điều 49 Luật Việc làm 2013, một trong những điều kiện để người lao động nghỉ việc được hưởng trợ cấp thất nghiệp là đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Đối chiếu theo quy định vào trường hợp của bạn, thời gian bạn đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đầu 2016, thời điểm nghỉ việc vào 9/2016, thì trong trường hợp này, bạn đóng bảo hiểm thất nghiệp chưa đủ 12 tháng nên không đủ điều kiện để được hưởng trợ cấp thất nghiệp. 

Tuy nhiên, theo quy định của Luật Việc làm 2013 thì người lao động làm việc theo hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp, bạn làm việc từ năm 2013 nhưng đến năm 2016 mới tham gia bảo hiểm thất nghiệp, thì trong trường hợp này, bạn cần xem xét lại việc đóng bảo hiểm thất nghiệp của đơn vị bạn cho bạn. Nếu bạn được truy đóng bảo hiểm thất nghiệp thì bạn có thể đủ điều kiện để được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Điều 43 Luật Việc làm 2013. 

Bài viết tư vấn pháp luật lao động trên được chúng tôi thực hiện theo yêu cầu được gửi bởi các quý khách hàng - người truy cập! Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Tư vấn nêu trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Quý khách hàng, người truy cập tuyệt đối không được coi là ý kiến pháp lý chính thức cuối cùng của Luật sư để giải quyết hoặc làm việc với bên thứ 3. Để được tư vấn luật lao động trực tuyến miễn phí vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật lao động: 1900.6568 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất! 

--------------------------------------------------------

(Lượt xem : 135)

Chuyên viên tư vấn: Nguyễn Đào Việt Nam

Nếu bạn thấy bài viết hữu ích, hãy ấn like để ủng hộ luật sư tư vấn