Quyền bầu cử bao gồm việc đề cử, giới thiệu người ứng cử và bỏ phiếu, tức là quyền chủ động trong lựa chọn của công dân. Quyền ứng cử là quy định của pháp luật về việc công dân có đủ điều kiện thể hiện nguyện vọng của mình được ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Quyền bầu cử là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật quy định nhằm bảo đảm cho mọi công dân có đủ điều kiện thực hiện việc lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.

Bầu cử là một thể chế dân chủ đã có từ lâu. Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhân dân tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước. Thông qua bầu cử, Nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước; góp phần thiết lập bộ máy nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội.

3. Có thể đồng thời ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được không?

Công dân chỉ được nộp hồ sơ ứng cử làm đại biểu Hội đồng nhân dân tối đa ở hai cấp trong cùng một nhiệm kỳ; nếu nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội thì chỉ được nộp hồ sơ ứng cử làm đại biểu Hội đồng nhân dân ở một cấp. Như vậy, một người đủ điều kiện ứng cử có thể đồng thời nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân một cấp nữa.

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân gồm có:

– Đơn ứng cử;

– Sơ yếu lý lịch có chứng nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền;

– Tiểu sử tóm tắt;

– Ba ảnh chân dung màu cỡ 4cm x 6cm;

– Bản kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Mẫu các văn bản, giấy tờ nói trên được thực hiện theo hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia tại Nghị quyết số… ngày….

Chậm nhất là 70 ngày trước ngày bầu cử, người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân (cả với người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử) phải nộp hồ sơ ứng cử.

4. Những bất cập trong pháp luật bầu cử ở Việt Nam:

Để pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội phát huy hiệu quả, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật cho phù hợp với thực tiễn. Theo quy định hiện hành, Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố ngày bầu cử chậm nhất là 115 ngày trước ngày bầu cử. Tuy  nhiên, từ thực tiễn công tác bầu cử đại biểu Quốc hội thời gian qua cho thấy cần nghiên cứu quy định công bố ngày bầu cử sớm hơn và phân bổ lại thời gian cho từng bước công việc một cách hợp lý để bảo đảm điều kiện vật chất, cũng như chất lượng của công tác chuẩn bị bầu cử.

Hiện nay, quy định về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội trong các văn bản pháp luật liên quan đến bầu cử còn thiếu cụ thể, chi tiết, đặc biệt là về trình độ, năng lực, phẩm chất, đạo đức… nên trong quá trình hiệp thương đã gặp khó khăn, thậm chí có nơi phát sinh khiếu nại, tố cáo về tư cách người ứng cử. Bên cạnh đó, pháp luật chưa quy định các tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể đối với trường hợp tự ứng cử. Do đó, pháp luật bầu cử cần hoàn thiện theo hướng quy định cụ thể các tiêu chuẩn đối với đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; tiêu chuẩn của đại biểu tự ứng cử, bổ sung quy định về cơ cấu thành phần tự ứng cử, theo đó đưa ra những tiêu chí để đánh giá, xét từng tiêu chuẩn theo luật định.

Việc pháp luật bầu cử quy định mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội không được bầu quá 03 đại biểu, đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu không quá 05 đại biểu đã dẫn đến tình trạng số lượng đại biểu được bầu ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không thống nhất.

Đồng thời, quy định về số dư người ứng cử cũng không giống nhau nên dẫn đến tình trạng thiếu sự công bằng về khả năng trúng cử giữa các ứng cử viên đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân ở các đơn vị bầu cử có số lượng đại biểu được bầu khác nhau. Vì vậy, cần quy định cụ thể hơn về số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu ở mỗi đơn vị theo hướng phải bảo đảm tính thống nhất về số lượng, nhất là thống nhất về số dư để bầu.

Pháp luật bầu cử cũng cần hoàn thiện theo hướng quy định kéo dài thời gian chuẩn bị công tác hiệp thương để tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức các bước hiệp thương chu đáo, nhất là giai đoạn thực hiện bước 4 (lấy ý kiến tín nhiệm của cử tri nơi cư trú), bởi vì bước này có khối lượng công việc rất lớn. Quy định rõ, minh bạch hình thức biểu quyết tại các hội nghị bằng hình thức bỏ phiếu kín nhằm bảo đảm tính khách quan, tự do trong việc thể hiện ý chí, quan điểm; đồng thời cũng tạo điều kiện để các đại biểu tham gia hội nghị thể hiện đúng chính kiến của mình.

Mặt khác, cần bổ sung quy định về các tiêu chí phân bổ ứng cử viên ở Trung ương về địa phương ứng cử; quy định cụ thể hơn về cách thức tổ chức, trách nhiệm của các ứng cử viên, số lượng các cuộc tiếp xúc trong vận động bầu cử, các điều cấm trong vận động bầu cử, chế tài xử lý đối với các vi phạm pháp luật trong vận động bầu cử.

Kết luận: Các bước tiến hành công tác bầu cử cần nghiên cứu quy định chặt chẽ, cụ thể hơn sự tham gia sâu rộng và trực tiếp hơn của cử tri và nhân dân ngay từ bước lựa chọn, giới thiệu người ứng cử qua các bước hiệp thương, bảo đảm được các yêu cầu dân chủ, đúng luật, an toàn, tiết kiệm và ngày bầu cử thực sự là ngày hội của toàn dân; là nơi để nhân dân gửi gắm mọi niềm tin, ủy thác cho đại biểu thay mình thực hiện quyền lực nhà nước.