Tranh tụng trong xét xử vụ án hình sự của các nước trên thế giới

Hiện nay trên thế giới, hoạt động tranh tụng được chia thành hai hệ thống tố tụng chính là hệ thống tố tụng thẩm vấn – chủ yếu tồn tại trong hệ thống dân luật (như Cộng hoà Pháp) và hệ thống đối tụng – chủ yếu tồn tại trong hệ thống án lệ (tiêu biểu như Anh, Mỹ).

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Hiện nay trên thế giới, hoạt động tranh tụng được chia thành hai hệ thống tố tụng chính là hệ thống tố tụng thẩm vấn (inquisitorial system) chủ yếu tồn tại trong hệ thống dân luật hệ thống đối tụng (adversary system) chủ yếu tồn tại trong hệ thống án lệ. Cụm từ adversary systemđược nhiều tài liệu nghiên cứu Việt Nam dịch là hệ thống tranh tnghay thủ tục tranh tụng. Điển hình của hệ thống tố tụng tranh tụng các nước theo hệ thống luật Anh Mỹ, điển nh của hệ thống tố tụng thẩm vấn các nước theo hình luật lục địa, tiêu biểu Cộng hòa Pp. Trong phạm vi nghiên cứu của mình, tôi không đi sâu o nguồn gốc chỉ n luận đến đặc điểm bản của hai hệ thống này trong hoạt động xét xử vụ án hình sự nói chung các nước Anh, Mỹ Pháp

1. Hệ thống tố tụng thẩm vấn ở Cộng hòa Pháp:

Trong xét xử vụ án Hình sự Pháp tồn tại chế định Bồi thẩm đoàn, chế định này dựa trên nguyên tắc xét xử tập thể tuyệt đối được bảo đảm giữa Bồi thẩm Thẩm phán chuyên nghiệp, nghĩa Thẩm phán chuyên nghiệp Bồi thẩm cùng tham gia xét xử về tất cả các vấn đề về pháp luật cũng như mức phạt. Nguyên tắc này được bảo đảm thực hiện như sau: Sau khi khai mạc phiên tòa, Viện lục sự đọc bản luận tội. Trước tiên Chủ tọa phiên tòa hỏi Bị cáo về căn cước của họ nhằm xác định đúng người được xét xử tại phiên tòa sau đó sẽ đề cập đến nội dung của hồ . Trong chừng mực nào đó, Chủ tọa phiên tòa phải tiến hành thẩm tra lại vụ việc bằng ch đặt câu hỏi cho Bị cáo, lấy lời khai nhân chứng thể cho đối chất. Luật của Bị cáo bắt buộc phải mặt tại phiên tòa. Các bên đều quyền hỏi tất cả nhân chứng của vụ án, được trình bày cách lập luận của mình một ch bình đẳng trước Tòa án. Các Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử Bồi thẩm thể hỏi Bị cáo Người làm chứng sau khi được Chủ tọa phiên tòa cho phép. Sau khi kết thúc thẩm vấn tại phiên tòa, Nguyên đơn dân sự hay Luật của Nguyên đơn dân sđược trình bày. Tiếp theo Công tố viên nêu lập luận, do truy tố Bị cáo nhân danh hội đề nghị mức hình phạt đối với Bị cáo, Luật của Bị cáo quyền bào chữa, tranh luận chống lại Cáo trạng đã truy tố Bị cáo. Thời gian biện hộ của Luật không hạn chế, Nguyên đơn dân sự Công tviên được quyền đáp lại nhưng Bị cáo hay Luật của Bị cáo luôn được nói sau cùng. Pháp tuy không sự phân chia quyền lực giữa Bồi thẩm Thẩm phán nhưng trong tranh tụng Chủ tọa phiên tòa toàn quyền trong việc áp dụng mọi biện pháp cần thiết để xác định sự thật với điều kiện không được biểu lộ ý kiến của mình về tội trạng của bị cáo, không được tóm tắt lý do buộc tội hay bào chữa

Thẩm phán chuyên nghiệp và Bồi thẩm cùng tham gia xét xử, cùng quyết định các vấn đề về pháp luật cũng như hình phạt. Bản án Tòa sẽ tuyên dựa hn toàn o kết quả tranh tụng tại phiên tòa. 

* Ưu điểm của hệ thống tố tụng thẩm vấn 

Đề cao vai trò chủ động của Thẩm phán trong suốt quá trình tố tụng. Thẩm phán không chỉ thể hiện quyền năng tại phiên a hay giai đoạn xét xử còn có quyền nghĩa vụ tham gia tích cực trong quá trình điều tra, thẩm tra chứng cứ. Điều này khẳng định việc tham gia trực tiếp của Thẩm phán trong tố tụng thẩm vấn ý nghĩa quan trọng, tích cực, người Thẩm phán trung tâm của quá trình thu thập dữ kiện trong hệ thống thẩm vấn, quyết định của Thẩm phán quyết định quan trọng

Đề cao vai trò của quan tiến hành tố tụng, đặc biệt giai đoạn điều tra cho nên việc điều tra, thẩm tra chứng cứ trong các vụ án được yêu cầu khắt khe và klưỡng, bảo đảm sự chính xác, khách quan trong việc xác định sự thật của vụ án xác định chính xác kẻ phạm tội

Phiên tòa trong tố tụng thẩm vấn gồm hai Thẩm phán: một Thẩm tra viên, một là Thẩm phán quyền quyết định vụ việc. Phần lớn nhiệm vụ thẩm vấn để bổ sung, làm , đánh giá chứng cứ vụ án thuộc về Thẩm phán. Các câu hỏi chủ yếu đối với các nhân chứng các bên liên quan do Thẩm phán đặt câu hỏi phát triển sự kiện theo hướng làm sự thật khách quan của vụ án. Các Luật chủ yếu chỉ tranh luận để giải thích về các chứng cứ liên quan đến vụ án thể các chứng cứ này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc đưa ra phán quyết của Thẩm phán

* Nhược điểm của hệ thống tố tụng thẩm vấn 

Hệ thống tố tụng thẩm vn được cho là không tôn trọng đầy đủ quyền của các bên đương sự bởi họ không nghĩa vụ chứng minh chứng cứ. chứng cứ do Thẩm phán điều tra tập hợp nên thể nói tố tng thẩm vấn đi ngược lại nguyên tắc khách quan cho rng đôi khi Thẩm phán đã sẵn trong quyết định xét xử trước khi diễn ra giai đoạn xét xử. Nếu xét dưới góc độ đó thì việc tranh luận tại phiên tòa trở nên nghĩa

2. Hệ thống tố tụng tranh tụng c nước Anh, Mỹ: 

Tố tụng tranh tụng Vương quốc Anh: Theo quy định trong hoạt động tranh tụng luôn sự phân công ràng quyền hạn giữa cảnh sát Công tố viên. Cnh sát nhiệm vụ điều tra, thu thập chứng cứ. Khi bắt người, Cảnh sát phải nói với người bị bắt họ thể thuê Luật đại diện cho mình. Các thông tin được trong quá trình điều tra hình sự thể liên quan đến việc điều tra được ghi lại bất kỳ bản ghi nào cũng được lưu lại. Bị can được giao một bản thông tin cảnh sát được khi yêu cầu được tiết lộ của Bộ can. Công tố viên không quyền can thiệp vào hoạt động điều tra của Cảnh t. Nhiệm vụ chủ yếu của ng tviên truy tố bị can ra trước tòa. Công tố viên phải tiết lộ cho Bị can biết bất kỳ tài liệu nào theo quan điểm của Công tố viên thể giảm nhẹ việc truy tố bị can cho phép Bị can thẩm tra tài liệu theo kiến nghị của Công tố viên không lợi ích công trong việc tiết lộ. Khi Bị can được tống đạt bản sao Cáo trạng và bản sao Cáo trạng và bn sao bộ i liệu chứa đựng chứng cứ làm sở cho việc buộc tội, Bị can phải đưa ra lời bào chữa bằng văn bản cho Tòa án Công tố viên với các nội dung, do đối đáp với bên công tố các thông tin cụ thể hỗ trợ cho lời bào chữa. Khi Bị can đưa ra lời bào chữa, Công tố viên hoặc Tòa án sẽ ra lệnh để Công tố viên tiếp tục phải tiết lộ cho Bị can bất kỳ tài liệu truy tố nào trước đó chưa tiết lộ cho Bị can. Trong trường hợp việc tiết lộ không lợi ích công thì Tòa án sẽ ra lệnh không tiết lộ. Tại phiên tòa, Công tố viên một trong những bên tranh tụng, thực hiện chức năng buộc tội, khi Thẩm phán Tòa án Hoàng gia thấy rằng vụ án phức tạp thì trước khi Bồi thm đoàn tuyên thệ Thẩm phán quyền ra lệnh tiến hành xét hỏi bộ, Quyết định truy tố phải được đưa ra tại lúc bt đầu xét hỏi. Thẩm phán thể hoãn việc xét hỏi bộ nhiều lần. Thẩm phán thể ra lệnh cho Công tố viên chuẩn bị chứng cứ truy tbất kỳ tài liệu nào Thẩm phán thấy ích cho sự hiểu biết của Bồi thẩm đoàn, cũng như quyền ra lệnh cho Bị can gửi cho Tòa án Công tố viên lời bào chữa các vấn đề Bị can dựa vào đó để tranh luận với bên truy tố. Tại phiên tòa xét hỏi trước khi xét xử, Thẩm phán đã thể ra phán quyết về việc chấp nhận chứng cứ. Khi xét xử, Công tố viên trình bày các nội dung, tình tiết của vụ án cho Tòa nghe. Luật bào chữa với nhiệm vụ xuất hiện trước Tòa, thực hiện chức năng bào chữa. Bất kỳ bên nào cũng thể làm khác với những được tiết lộ trước đó Bồi thẩm đoàn thể rút ra kết luận. Việc tiến hành tố tụng về nguyên tắc trách nhiệm chính của các bên buộc tội bào chữa. Bồi thẩm đoàn xem xét phán quyết xem Bị cáo phạm tội hay không. Vai trò chính của Thẩm phán trong xét xử bảo đảm sự tuân thủ các thủ tục tố tụng, Thẩm phán quyền quyết định những vấn đề liên quan đến luật giải thích luật. Sau khi đoàn Bồi thẩm quyết định rằng Bị cáo phạm tội tThẩm phán xem xét quyết định mức hình phạt đối với Bị cáo

Những người tham gia tố tụng đều phải ra trước Tòa. Theo pháp luật ttụng hình sự Vương quốc Anh, nhân chứng trẻ em không được đưa ra chứng cứ liên quan ngoài phương diện ghi hình. Tuy nhiên a án thể cho phép điều này thấy rằng việc đó lợi cho công

Để bảo đảm tranh tụng được thực hiện, Tòa án Hoàng Gia quyền triệu tập nhân chứng. Nếu nhân chứng không đơn hiệu hóa lnh triệu tập với lý do họ không thể đưa ra chứng cứ quan trọng không chỉ thị của Tòa án rằng lệnh triệu tập đó không còn hiệu lực mà nhân chứng không mặt theo lệnh thì luật tố tụng hình sự Vương quốc Anh quy định rằng họ phạm tội khinh thường a án và thbị Tòa án trừng phạt theo thủ tục rút gọn

Tất cả các phán quyết, kể cả phán quyết khi hỏi bộ của Tòa án đều thể bkháng cáo, Bồi thẩm đoàn chỉ tuyên thệ sau khi kháng cáo được quyết định hoặc i bỏ

Ttụng tranh tụng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: Thực tiễn hoạt động của hệ thống tranh tụng tại Tòa án Hoa Klà stìm kiếm chân trong việc bảo vệ quyền nhân của người bị buộc tội. Hệ thống tranh tụng Hoa Kđòi hỏi người bị buộc tội được coi không ti cho đến khi chứng minh được họ có tội. vậy, tội phạm cần phải được chứng minh loại trừ mọi nghi ngờ thể. Như vậy, vai trò của Chính phủ phải bảo đảm công chứ không đơn thuần là tìm mọi cách kết tội Bị can, bị cáo, Luật của Chính phủ cần phải công bằng đối với cả những người đứng ra buộc tội những người bị buộc tội. Việc truy tố phải được tiến hành tại phiên tòa ng khai. Sau khi phiên tòa chính thức bắt đầu, Luật của Chính phủ sẽ đưa ra bằng chứng nhân chứng để làm việc kết tội của mình. Tòa án thể dừng tố tụng để cho phép một bên thời gian kiểm tra lời khai và chuẩn bị để sử dụng. Luật bào chữa thể phản đối việc áp dụng những vật chứng nếu được chấp nhận thì sẽ loại những vật chứng khỏi diện được xem xét. Ngược lại, nếu phản đối của Luật sư bào chữa không được chấp nhận thì vật chứng của Luật Chính phủ đưa ra sẽ được xác định chủng loại và chính thức đưa vào hvụ án. Luật bào chữa quyền chất vấn những chứng cứ từ phía buộc tội có thể đưa ra bác bỏ những chứng cứ này với lý lẽ của mình. Bên buộc tội cũng thể chất vấn những nhân chứng từ phía bào chữa đưa ra những lẽ, chứng cứ để bác bỏ chúng. Sự khác biệt giữa đưa lý lẽ từ phía buộc tội Luật sư bào chữa : Luật sư bào chữa không bị pháp luật yêu cầu đưa ra bất kỳ chứng cứ nào mới, bổ sung vật chứng hay nhân chứng nào. Việc bào chữa thể thực hiện theo cách chất vấn độ tin cậy hay tính hợp pháp những chứng cứ của Chính phủ đưa ra để buộc tội. vậy, quá trình xét xử vụ án Hình sự đòi hỏi đáp ứng các nguyên tắc sau: Luật Chính phủ phi chứng minh tội phạm loại trừ mọi nghi ngờ về việc thực hiện nh vi phạm tội của Bị cáo; nguyên tắc thẩm vấn nhân chứng trước phiên tòa, các bên đều quyền yêu cầu nhân chứng người giám định tham dự phiên tòa khai đối chất với họ. Việc tranh luận tại phn tòa được khép lại theo trình tự: Luật Chính phủ tranh luận bên bào chữa tranh luận Luật Chính phủ tranh luận lại. Tại phiên tòa, Thẩm phán cần phải trung lập nhưng phải bảo vệ các quyền của Bị cáo. Trong khi hai n buộc tội gỡ tội thực hiện thủ tục tranh tụng, Thẩm phán đóng vai trò trung gian với công việc đầu tiên theo i phiên tòa, sau đó xem xét các đơn đề nghị của các bên liên quan đến các dạng chứng cứ các câu hỏi được đặt ra cho nhân chứng. Thẩm phán phải duy trì trật tự tại phiên tòa. Do truyền thống của các Tòa án Hoa K, Bồi thẩm đoàn không được phép đặt câu hỏi cho các nhân chứng hay Thẩm phán và cũng không được ghi chép về vụ án. Các bên đều quyền yêu cầu bằng văn bản những nội dung cụ thể về luật pháp để Tòa án hướng dẫn cho Bồi thẩm đoàn quyền phản đối những nội dung trong hướng dẫn hoặc phản đối việc hướng dẫn không theo yêu cầu của mình. Bản án của Bồi thẩm đoàn sẽ tuyên về phần tội danh đối với Bị cáo. Nếu Bồi thẩm đoàn không đưa ra được phán quyết thống nhất, họ vẫn được yêu cầu nỗ lực để đạt được phán quyết, nhưng trong trường hợp không đưa ra được quyết định thì Thẩm phán thể giải tán Bồi thẩm đoàn triệu tập một phiên tòa xét xử mới. Nếu Bồi thẩm đoàn phán quyết Bị cáo tội thì giai đoạn kết án quyết định hình phạt sẽ bắt đầu. Tòa án phải báo cáo trước khi quyết định hình phạt về tiền án, tiền sự, khung hình phạt, án phí, ... Bị cáo Luật của Bị cáo quyền đọc báo cáo có thể được chấp nhận phản đối báo cáo. Trước khi quyết định hình phạt, Tòa án phải gặp gỡ riêng Bị cáo để Bị o trình bày tình tiết giảm nhẹ; cho Luật sư của Bị cáo, nạn nhân cũng như Luật của 

Chính phủ hội được phát biểu. Sau khi kết án, Tòa án phải vấn cho Bị cáo biết quyền kháng cáo

Ưu điểm

Bảo đảm quyền tranh tụng trước tòa cho cả bên buộc tội (đại diện của Nnước) phía gỡ tội (các Luật bào chữa) một cách bình đẳng, khách quan, không bên nào được lấn át hay áp đặt nhận thức đối với bên kia về quan điểm mình đưa ra. Thẩm phán giữ vai trò trọng tài, điều khiển cuộc tranh tụng, bảo đảm cho các bên đầy đđiều kiện quyền hạn tranh tụng như nhau, buộc bên bị phản đối phải chấm dứt việc đưa ra các quan điểm suy diễn, áp đặt nếu sự phản đối của bên kia căn cứ, đồng thời ngăn chặn những phản đối không căn cứ

Sử dụng việc kiểm tra chéo, đối chất để xác định tính chính xác, căn cứ của chứng cứ. Các bên (buộc tội gỡ tội) đều quyền thẩm vấn các nhân chứng để kiểm tra tính trung thực trong lời khai của họ, kiểm tra tính xác thực, logic căn cứ về những chứng cứ họ đã khai, nhằm bảo đảm rằng lời khai của nhân chứng cái họ đã nhìn thấy, chứng kiến cụ thể chứ không phải do họ suy diễn hoặc nghĩ rằng sdiễn ra như vậy

Đề cao tính trung lập của Tòa án, trong hệ thống tố tụng tranh tụng, Thẩm phán bồi thẩm đoàn chỉ đưa ra kết luận cuối cùng đứng ngoài mọi tranh luận họ cũng bị cấm tham gia vào các thủ tục thu thập chứng cứ hay thuyết phục các bên các thao tác hòa giải với nhau. Trách nhiệm trình bày chứng cứ thuộc về các bên. luận của hình tranh tụng đòi hỏi rằng các bên phải trách nhiệm đưa chứng cứ ra trước Tòa. Nguyên tắc này bảo đảm cho Tòa án thoát khỏi mọi ảnh hưởng hay định kiến nếu tham gia vào việc thu thập chứng cứ. Điều này cũng khuyến khích các bên phải tận dụng hết mọi hội hay khả năng để tìm tòi, đưa ra những chứng cứ thuyết phục nhất qua đó Thẩm phán có điều kiện để suy xét, đưa ra phán quyết thích hợp nhất

Chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật được giao cho Tòa án. Với vị trí trung tâm của hệ thống pháp, của hoạt động tố tụng, Tòa án quyền trách nhiệm bảo đảm cho các bên nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật

Nhược đim

Tố tụng tranh tụng bị phê phán xa rời thực tế, một số ý kiến cho rằng, trong hình tố tụng tranh tụng, bên nào nhiều tiền thuê Luật thì snhiều hội giành thắng lợi hơn. vậy tố tụng tranh tụng chỉ cho phép tìm ra một phần sự thật mà không phải tất cả

Thủ tục trong tranh tụng rất phức tạp. Mọi vấn đề lẽ ra phải được thực hiện trong cả một quá trình điều tra lại chỉ được trình bày trong phiên xét xử khi phiên tòa xét xử diễn ra thì chưa thực sự được khẳng định chắc chắn

Chi phí mở phiên tòa kcao, thời gian xét xử thường kéo dài, thành viên bồi thẩm đoàn thể bị ảnh hưởng quá mức bởi thông tin đại chúng liên quan đến vụ việc khó có thể xác định ngay được thiệt hại cũng như phân tích những chứng cứ phức tạp tại phiên tòa; Bồi thẩm đoàn không trách nhiệm đưa ra do đối với các quyết định của họ

Mặc những điểm khác nhau thậm chí trái ngược nhau, cả hai hệ thống đều một đặc điểm chung nhà nước độc quyền trong việc xác định hay không một vụ việc phạm ti quyết định nh phạt với một mục đích bản chủ yếu ngăn ngừa việc trả thù nhân

Tóm lại, mỗi hình tố tụng những mặt hạn chế, mặt tích cực, những điểm bất cập tương đồng. Áp dụng hình tố tng nào phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, hội truyền thống pháp luật của từng nước. Tuy nhiên việc hiểu những mặt tích cực hạn chế của mỗi mô hình luôn tạo ra sự chủ động tích cực trong quyết định lựa chọn của mỗi quốc gia

thể nói mặc được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau song hoạt động tranh tụng (hay thủ tục tố tụng, giai đoạn tố tụng, hình tố tụng...) luôn tồn tại bên buộc tội bên gỡ tội chức năng đối kháng, phủ định lẫn nhau, đây một trong những phương pháp hữu hiệu để tìm ra sự thật của vụ án. Việc ghi nhận áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng Hình sự nước ta một yêu cầu mang tính tất yếu trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa, đây cũng một nội dung quan trọng trong tiến trình cải cách pháp của nước ta từ nay đến năm 2020 nhằm đạt được mục tiêu xây dựng một nền pháp dân ch, hiện đại, hiệu quả, đảm bảo đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhà nước hội.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo