Tội xâm phạm trật tự công cộng là gì? Thực hành quyền công tố đối với tội này

Tội xâm phạm trật tự công cộng là những hành vi cố ý trực tiếp, xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về trật tự công cộng, xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở những nơi công cộng gây thiệt hại về tài sản Nhà nước, về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Khái niệm các tội xâm phạm trật tự công cộng: 

Trật tự công cộng trạng thái ổn định, không những hành vi vượt quá tiêu chuẩn đạo đức hội, vượt quá khuôn khổ cho phép của Nnước tại những nơi phục vụ, đảm bảo lợi ích xã hội chung của con người như trường học, bệnh viện, công viên, khu dân ... . Trật tự công cộng một trong những đối tượng được luật hình sự bảo vệ. Theo quy định tại Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây xin phép gọi tắt Bộ luật Hình sự năm 2015) các đối tượng đó : độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật t, an toàn xã hội...

Dưới góc đkhoa học, khái niệm các tội xâm phạm trật tự công cộng được đề cập dưới nhiều quan điểm nhưng chủ yếu các quan điểm đó thường gộp chung khái niệm của các tội xâm phạm trật tự công cộng với các tội xâm phạm an toàn công cộng mà không định nghĩa riêng về các tội xâm phạm trật tự công cộng

Theo GS.TS Võ Khánh Vinh

Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng những hành vi nguy hiểm cho hội, được quy định trong BLHS, do người năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc ý, xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng gây ra những thiệt hi cho tính mạng, sức khỏe của nhân dângây thiệt hại đến tài sản của Nnước của cá nhân. Theo GS.TS Trần Minh Hưởng

Các tội phạm xâm phạm an toàn, trật tự công cộng những hành vi nguy hiểm cho hội, lỗi, do người đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc ý, m phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn công cộng, trật tự công cộng gây ra những thiệt hại về tài sản Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, xâm phạm đến hoạt động bình thường những nơi công cộng

Với các quan điểm này, các tác giả thống nhất các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng đầy đủ những đc điểm chung của tội phạm đó tính nguy hiểm cho hội, tính lỗi và trái với luật hình sự. Tuy nhiên, để đưa ra khái niệm riêng về các tội xâm phạm trật tự công cộng thì cần đi sâu hơn nữa về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sựbởi tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp tội mua dâm người dưới 18 tuổi được quy định ở các Điều 325, 327 Bộ luật hình sự 2015 đều chủ thể thực hiện tội phạm phải người trên 18 tuổi. Cùng quan điểm như vậy, tác giả Triệu Văn Nam phát biểu như sau

Các tội xâm phạm trật tự công cộng những hành vi nguy hiểm cho hội, do những người đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc ý, xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về trật tự công cộng , gây ra những thiệt hại về tài sản của Nnước, của tổ chức, thiệt hại về tính mạng sức khỏe, tài sản của công dân đồng thời còn xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở những nơi công cộng

Quan điểm này cũng giống như quan điểm của GS.TS Trn Minh Hưởng khi đã đều đề cập đến khách thể được BLHS bảo vệ các tội xâm phạm trật tự công cng xâm phạm đó hoạt động bình thường, ổn định xã hội những nơi công cộng, nhưng học viên cho rng khách thể chính bị các tội xâm phạm trật tự công cộng xâm phạm phải hoạt động bình thường, ổn định hội những nơi công cộng, những thiệt hại về tài sản của Nnước, tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân chỉ những khách thể phụ nhằm phân biệt giữa các tội trong nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng

Đồng thời, qua nghiên cứu tính lỗi của các tội xâm phạm trật tự công cộng , học viên thấy lỗi của các tội này phải lỗi cố ý bởi lẽ người thực hiện hành vi phạm tội đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khnăng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, bản thân người phạm tội cũng nhận thức hành vi phạm tội của mình gây ra nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả nhưng mong muốn hậu quả xảy ra hoặc không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng thái độ để mặc cho hậu quả xảy ra

Tổng hợp lại, theo quan điểm của học viên, khái niệm của các tội xâm phạm trật tự công cộng như sau

Các tội xâm phạm trật tự công cộng những hành vi nguy hiểm cho hội, do người đủ năng lực trách nhiệm hình sự đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý trực tiếp, xâm phạm vào các quy định của Nhà ớc về trật tự công cộng, xâm phạm đến hoạt động bình thường, n định hội những nơi ng cộng y thiệt hại về tài sản Nhà nước, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân

Các tội xâm phạm trật tự công cộng gồm 12 tội danh được quy định từ Điều 318 đến Điều 329 Bộ luật Hình sự 2015. Dựa theo tiêu chí khách thể trực tiếp bị xâm hại, thể phân chia các tội xâm phạm trật tự công cộng thành hai nhóm, đó

Thứ nhất, nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng liên quan đến tệ nạn hội:

Tội hành nghề mê tín, dị đoan (Điều 320);

Tội đánh bạc (Điều 321);

Tội tổ chức đánh bạc hoặc bạc (Điều 322);

Tội truyền văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 326);

Tội chứa mại dâm (Điều 327);

Tội môi giới mại dâm (Điều 328);

Tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329).

Thứ hai, nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng liên quan đến trật tự hội:

Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318);

Tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt (Điều 319)

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội (Điều 323)

Tội rửa tiền (Điều 324)

Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp (Điều 325)

Bộ luật Hình s2015 đã quy định cấu thành của các tội phạm này và các hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phm tội của từng trường hợp cụ thể trên sở phân hóa trách nhiệm hình sự thể hóa hình phạt

Những quy định này của BLHS năm 2015 các quy phạm về luật nội dung hoạt động công tố trong giai đoạn điều tra phải chứng minh làm , trên sở đó xác định tính căn cứ để truy tố người phạm tội ra trước tòa án.

2. Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng: 

nước ta, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm đảm bảo

Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người tội, không đlọt tội phạm người phạm tội; Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật

Viện kiểm t nhân dân thẩm quyền quyết định việc khởi tố hay kng khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can (xét phê chuẩn, hủy bỏ quyết định khởi tố không, các quyết định này căn cứ phù hợp pháp luật của CQĐT), việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người phạm tội. Khi VKSND không chấp nhận việc khởi tố thì yêu cầu CQĐT hủy bỏ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố, điều tra xác định không tội phạm hoặc không căn cứ truy cứu trách nhiệm đối với bị can thì vụ án phải đình chỉ chấm dứt mọi hoạt động tố tụng

Thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng những đặc điểm chung của thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra đó

Một , trong khi hoạt động điều tra nhiệm vụ chứng minh toàn bộ việc phạm tội một cách khách quan, toàn diện, cả chứng cứ buộc tội chứng cứ gỡ tội thì hoạt động công tố nhằm thực thi quyền truy cứu trách nhiệm | hình sự, quyết định việc buộc tội, việc gỡ tội; quyết định việc hạn chế các quyền công dân như bắt, tạm giữ, tạm giam các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật

Hai , thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra bao gồm hành vị các quyết định tố tụng mang tính công khai theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền tố tụng do pháp luật quy định. Các quyết định công tố thể hiện dưới dạng văn bản của người thẩm quyền như quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can. Các quyết định tố tụng ca VKSND đều được gửi cho những người liên quan theo quy định của pháp luật

Ba , c hoạt động thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra đều nhân danh nhà nước, chịu sự lãnh đạo tập trung của Viện trưởng VKSNmỗi cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC. VKSND cấp trên quyền rút, hủy bỏ các quyết định công tố không căn cứ trái pháp luật của VKSND cấp dưới yêu cầu ra quyết định đúng pháp luật. Điều này khác với tổ chức hoạt động điều tra, CQĐT cấp trên không quyền rút hoặc hủy bỏ các quyết định tố tụng của CQĐT cấp dưới

Bốn , thực hành quyền công ttrong hoạt động điều tra đặc điểm khác với hoạt động kiểm t điều tra. Tuy cùng một chủ thể tiến hành VKS nhưng đối tượng của thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra sự việc phạm tội, hành vi phạm tội người phạm tội, còn đối tượng của hoạt động kiểm sát điều tra các chủ thể tiến hành hoạt động điều tra (quan điều tra, Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra), nếu phát hiện hành vi vi phạm pháp luật, VKS quyền kiến nghị, yêu cầu các chủ thể chm dứt vi phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật bị vi phạm

Năm , khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, song song với việc xem xét đánh giá những tài liệu, chứng cứ để buộc tội, VKS cũng phải xem xét, đề ra các yêu cầu điều tra để tìm kiếm, xem xét, đánh giá những tình tiết gỡ tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Đây đặc trưng của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra với hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử bởi trong giai đoạn xét xử, khi thực hành quyền công tố, VKS chỉ thực hiện nhiệm vquan trọng nhất bảo vệ bản cáo trạng đề nghị mức hình phạt đối với người phạm tội

Ngoài những đặc điểm trên, thực hành quyền công tố giai đoạn điều tra các các tội xâm phạm trật tự công cộng còn những đặc điểm riêng như sau

Một , các tội xâm phạm trật tự công cộng thường phức tạp, khó phân loại hành vi phạm tội của những người thực hiện hành vi phạm tội bởi các vụ án thường nhiều đối tượng, cùng thực hiện một hoặc nhiều nh vi vi phạm pháp luật (tội gây rối trật tự công cộng, tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, tội môi giới mại dâm, tội chứa mại dâm, tội rửa tiền), trong quá trình điều tra, các đối tượng tìm mọi cách để đổ lỗi cho nhau hoặc che giấu hành vi phạm tội của người khác. Do đó, khi thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên được phân công trước hết phải phối hợp với cán bộ kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam đảm bảo các đối tượng bị tạm giữ, tạm giam riêng rẽ, tránh việc các đối tượng thông cung, cản trở hoạt động điều tra. Đồng thời, Kiểm sát viên phải phối hợp với Điều tra viên hỏi cung các bị can để đánh giá tính trung thực trong lời khai của các đối tượng, qua đó phân loại mức độ nguy hiểm, tính chất đồng phạm của các đối tượng. Điều 50 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 111/VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về kỹ năng tiến hành hỏi cung của Kiểm sát viên như sau

Khi nhận được thông báo của Điều tra viên, cán bộ điều tra về việc tiến hành hỏi cung bị can, nếu xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên trực tiếp tham gia việc hỏi cung bị can. Trong trường hợp này, Kiểm sát viên phải nghiên cứu, nắm chắc hồ vụ án, các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội của bị can, xác định nội dung cn làm để yêu cầu Điều tra viên, Cán bđiều tra hỏi; phối hợp với Điều tra viên, Cán bộ điều tra nghiên cứu, phát hiện mâu thuẫn giữa lời khai của bị can với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với chứng cứ khác nhằm làm những vấn đề cần phải chứng minh. Kiểm sát viên chú ý cách đặt câu hỏi của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, bảo đảm không để xảy ra việc bức cung, mớm cung, dụ cung; chú ý câu trả lời của bị can để phát hiện tình tiết mới, những điểm chưa yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra hỏi làm . Nếu thấy việc hỏi cung chưa đạt yêu cầu, Kiểm sát viên trực tiếp hỏi để làm . Khi tham gia hỏi cung bị can cùng Điều tra viên, Cán bộ điều tra, kiểm sát viên vào biên bản hỏi cung. Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ biên bản hỏi cung do Điều tra viên, Cán bộ điều tra thực hiện. Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra cung cấp đầy đủ biên bản hỏi cung, các tài liệu khác đã thu thập được liên quan đến việc hỏi cung bị can; tiến hành phân tích, đối chiếu, so sánh với các tài liệu khác trong hồ sơ để xác định tính căn cứ, hợp pháp sự phù hợp của lời khaibảo đảm mọi tình tiết trong lời khai của bị can đều phải được kiểm tra, xác minh làm

Hai , nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng xảy ra trên địa bàn quận, huyện đa số thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng tội phạm nghiêm trọng do đó, khi thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên phải phối hợp cùng với quan Cảnh t điều tra trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các bị can để vừa đảm bảo việc các bị can khai báo đúng sự thật, không bỏ trốn trong suốt quá trình giải quyết vụ án, vừa đảm bảo quyền con người của các bị can bởi lẽ, đối với các bị can phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng tviệc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị can phải thỏa n những quy định tại khoản 2 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 như:

a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;

b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch bị can;

c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;

d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;

đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm người thân thích của những người này

Thông qua những đặc điểm đã phân tích trên: Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các tội xâm phạm trật tự công cộng việc sử dụng quyền năng pháp mang tính quyền lực Nhà nước trong tố tụng hình s. Trong đó, Viện kiểm sát nhân dân ban hành các văn bản biệt có tác dụng làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án, bảo đảm cho việc truy cứu trách nhiệm đúng pháp luật hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm đến trật tự công cộng.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo