Tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện là gì?

Tội phạm xâm phạm sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm một cách cố ý hoặc vô ý đến các quan hệ sở hữu được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm của tội phạm.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Về quyền sở hữu và tội phạm xâm phạm sở hữu: 

Sở hữu được hiểu theo nghĩa chung nhất đó việc chiếm hữu, quản , sử dụng định đoạt tài sản. Theo từ điển Luật học thì sở hữu Quan hhội thông qua đó xác định tài sản thuộc về ai? Do ai chiếm hữu, sử dụng định đoạt i sản trong hội. Quyền sở hữu một trong những quyền bản của công dân được pháp luật của bất kỳ quốc gia nào cũng công nhận. Việt Nam, quyền này cũng được ghi nhận trong hệ thống pháp luật. Điều 32 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: 1. Mọi người quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà , liệu sinh hoạt, liệu sn xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tchức kinh tế khác. 2. Quyền sở hữu nhân quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ.... Ngoài ra, quyền sở hữu cũng được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2015. Trong Bộ luật dân sự đã ghi nhận quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu đối với tài sản mình sở hữu hợp pháp. Như vậy, mỗi quyền năng một yếu tố cu thành quyền sở hữu, trong đó quyền chiếm hữu quyền của chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc người khác thực hiện quyền này khi được chủ sở hữu chuyển giao theo quy định của pháp luật; quyền sử dụng quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng lợi (hoa lợi, lợi tức) từ i sản hoặc người khác được chủ sở hữu giao cho quyền này theo quy định của pháp luật và quyền định đoạt quyền của chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. d, chủ sở hữu quyền tự mình bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác đối với tài sản

Đặc điểm của quyền sở hữu thể hiện chỗ cả ba quyền năng đó cùng phát sinh đồng thời, dựa trên một căn cứ pháp nhất định như thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, ... Mặt khác, theo quy định của pháp luật, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt i sản theo ý chí của mình đối với tài sản, miễn không làm thiệt hại ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Trong khi đó, pháp luật cũng quy định rằng người không phải chủ sở hữu, nếu quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu ca mình thì hoặc phải theo thỏa thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp luật. Các quy định của pháp luật về nội dung của quyền chủ sở hữu phụ thuộc o chế độ kinh tế cấu trúc giai cấp của hội

Về việc bảo vệ quyền sở hữu của chsở hữu thì theo điều 165 Bộ luật dân sự 2015 quy định: 1. Không ai thể bị hạn chế, bớc đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sn. Như vậy, không ai quyền xâm phạm quyền sở hữu của người khác một cách trái phép, mọi chthể đều phải nghĩa vụ tôn trọng, không được những hành vi thể làm tổn hại đến quyền chủ sở hữu, tính bắt buộc đối với tất cả các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Trừ những trường hợp thật cần thiết do quốc phòng, an ninh hoặc lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, nhân theo giá thị trường. Do vậy, khi nhân, tổ chức xâm phạm quyền sở hữu trái pháp luật của chủ sở hữu tài sản, người quản tài sản hợp pháp sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định ca Luật Hình sự Việt Nam trở thành tội phạm xâm phạm sở hữu

Theo thc Đinh Văn Quế thì: c tội phạm sở hữu những hành vi nguy hiểm cho hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có ng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một ch cố ý hoặc ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu, của quan, tổ chức của công dân[32]. Theo TS. Đăng Doanh các tội xâm phạm sở hữu được hiểu : Vmặt khoa hc các tội xâm phạm shữu được hiểu hành vi lỗi, gây thiệt hại cho c quan hệ sở hữu mức đnhất định phản ánh đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự tội phạm. Ngoài ra, theo quan điểm của GS.TS Trần Minh Hưởng cho rằng: các tội xâm phạm sở hữu những hành vi nguy hiểm cho xã hội, lỗi, do người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đạt đủ độ tuổi theo luật định, thực hiện, y thiệt hại hoặc đe dọa gây thit hại mức độ nhất định cho quan hệ sở hữu...

Như vậy, thể hiểu tội phạm xâm phạm sở hữu cũng bao gồm những dấu hiu chung của khái niệm tội phạm được quy định tại Khoản 1 Điều 8 BLHS m 2015. Theo đó, các tội xâm phạm sở hữu những hành vi nguy hiểm cho hội được quy định trong BLHS, do người ng lực trách nhiệm hình sự đạt độ tuổi Luật hình sự quy định thực hiện một cách cố ý hoặc ý xâm phạm đến quan hệ sở hữu theo quy định của BLHS phải bị xử hình sự

Tội phạm xâm phạm sở hữu hành vi nguy hiểm cho hội bởi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ. Theo khoản 1 Điều 2 BLHS 2015 quy định: Chngười nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình s. Theo nguyên tắc đó thể hiểu rằng chỉ những hành vi xâm phạm sở hữu được quy định trong BLHS mới được coi tội phạm xâm phạm sở hữu. Trong BLHS 2015, các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại chương XVI gồm 13 điều luật. Căn cứ vào đây để xác định những hành vi nào là hành vi xâm phạm sở hữu để buộc các chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Chủ thể thực hiện các hành vi phạm tội phải do người năng lực TNHS thực hiện. BLHS không quy định cụ thể về năng lực TNHS chỉ quy định tình trạng không năng lực TNHS tuổi chịu TNHS. Từ các quy định này thể hiểu rằng tội phạm xâm phạm sở hữu hành vi nguy hiểm cho hội do người đạt độ tuổi luật định người nhận thức được khnăng điều khiển được nh vi của mình. Cuối cùng, các tội xâm phạm sở hữu hành vi lội. Lỗi thái độ tâm của người thực hiện tội phạm đối với hành vi nguy hiểm cho hội mà họ thực hiện và đối với hậu quả cho hội do hành vi đó gây ra. Lỗi được thể hiện dưới hình thức cố ý (cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp) hoặc ý (vô ý do quá tự tin hay ý do cẩu thả). Đa số các tội xâm phạm sở hữu được thực hiện do lỗi cố ý. Chỉ hai tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước tội ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản các tội được thực hiện do lỗi vô ý

Từ các luận điểm trên thể hiểu tội phạm xâm phạm sở hữu hành vi nguy hiểm cho hội xâm phạm một cách cố ý hoặc ý đến các quan hệ sở hữu được quy định trong BLHS, do người năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện việc xâm hại này thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm của tội phạm

2. Thế nào là người dưới 18 tuổi phạm tội:

nước ta, người được coi nhận thức đầy đủ người từ 18 tuổi trở lên người dưới 18 tuổi, hay còn gọi người chưa thành niên người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận với đy đủ các quyền nghĩa vụ

Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (Quy tắc Havana) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990 ghi nhận cụ thể: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải đưc pháp luật xác định không được tước quyền tự do của người chưa thành niên. Về quy tắc phòng ngừa người dưới 18 tuổi phạm tội được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1990 mc không đưa ra khái niệm cụ thể về người chưa đủ 18 tuổi phạm tội, song thông qua các quy định cũng giúp chúng ta hiểu người chưa thành niên người dưới 18 tuổi

Trong BLHS hiện hành, vấn đề TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội được nhà làm luật quy định trong một chương riêng thuộc Phần chung Chương XII. Trong đó quy định các nguyên tắc xử người dưới 18 tuổi phạm tội; các biện pháp phi hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; vấn đề hình phạt, quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và các vấn đề khác liên quan

Từ đó, mặc không quy định trong BLHS nhưng thuật ngữ Người dưới 18 tuổi phạm tộiđược hiểu người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm thực hiện tội phạm. Tại điều 12 BLHS hiện hành quy định:

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 29, 303 và 304 của Bluật này.

Như vậy, chỉ những người chưa đủ 18 tui thuộc trường hợp từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội, còn người dưới 14 tui thì không phải chu trách nhiệm hình sự. Trên sở quy định của Bộ luật hình sự, một số tác giả đã đưa ra khái niệm người chưa thành niên phạm tội tương đối đầy đủ trong khoa học pháp hình sự nhằm xác định tính chất phạm tội của hành vi cũng như tạo điều kiện cho việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên sao cho phợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi họ đã thực hiện trên sở những đặc điểm tâm , sinh của họ vào thời điểm họ phạm tội

Theo TSKH.GS Cảm PGS.TS Đỗ Thị Phượng thì người chưa thành niên phạm tội người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hin nh vi nguy hiểm cho hội bị luật hình sự cấm [3, tr. 9]. Do đó, năm dấu hiệu bản về người chưa thành niên phạm tội dưới khía cạnh pháp hình sự

1) Từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi;

2) năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm tâm sinh ;

3) Đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội;

4) Hành vi người chưa thành niên thực hiện hành vi bị pháp luật hình sự cấm;

5) lỗi (cố ý hoặc ý) khi thực hiện hành vi phạm tội

Như vậy, theo tác giả người dưới 18 tuổi phạm tội người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS, cố ý hoặc ý thực hiện các hành vi nguy hiểm cho hội BLHS quy định là tội phạm

Trên sở các lập luận trên, theo tác giả thể đưa ra khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện như sau: Các tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi không trong nh trạng không năng lực TNHS, cý hoặc ý thực hiện nh vi m hại đến quan hsở hữu BLHS quy định phải xlý hình s.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư sáng lập, Giám đốc Công ty Luật TNHH Dương Gia.
Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Nguyên Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân Tối cao.
Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại TPHCM.
Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Đà Nẵng.
Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Nguyên Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên.
Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Trưởng chi nhánh Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Miền Trung.
Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại TPHCM.
Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo