Tội trộm cắp tài sản quy định theo pháp luật hình sự nước ngoài

Nghiên cứu các các ưu điểm và hạn chế về quy định tội trộm cắp trong Bộ luật Hình sự Việt Nam so với quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga và Đức giúp chúng ta có cơ sở để hoàn thiện hơn quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Tội trộm cắp tài sản quy định trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga: 

Trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga, tội trộm cắp tài sản được quy định như sau: Điều 158: Tội trộm cắp tài sản

1. Trộm cắp tài sản mật chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tiền đến tám mươi nghìn rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến sáu tháng, hoặc bị phạt lao động bắt buộc đến một trăm tám mười giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ sáu tháng đến một năm, hoặc bị hạn chế tự do đến hai năm, hoặc bị phạt giam đến bốn tháng, hoặc bị phạt đến hai năm.

2. Hành vi trộm cắp tài sản được thực hiện:

a) bởi nhóm người bàn bạc từ trước;

b) kèm theo hành vi đột nhập trái pháp luật vào nhà hoặc kho khác;

c) kèm theo việc gây thiệt hại đáng kể cho công dân;

d) từ quần áo, túi xách hoặc đồ xách tay khác trên người bị hại thì bị phạt tiền đến hai trăm nghìn ráp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến mười tám tháng, hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ một trăm tám mươi giờ đến hai trăm bốn mươi giờ, hoặc bị lao động cải tạo từ một năm đến hai năm, hoặc bị phạt tù đến năm năm hoặc không kèm theo hạn chế tự do đến một năm.

3. Hành vi trộm cắp được thực hiện:

a) Kèm theo hành vi đột nhập trái pháp luật vào nhà ;

b) Từ ống dẫn dầu mỏ, ống dẫn các sản phẩm dầu mỏ, ống dẫn ga;

c) mức độ nghiêm trọng thì bị phạt tiền từ một trăm nghìn đến năm trăm nghìn rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến mười tám tháng hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ một trăm tám mươi giờ đến hai trăm bốn mươi giờ, hoặc bị phạt lao động cải tạo từ một năm đến hai năm, hoặc bị phạt đến năm năm hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến một năm.

4. Hành vi trộm cắp được thực hiện: a) Bởi nhóm tổ chức; b) mức độ đặc biệt lớn thì bị phạt từ năm năm đến mười năm hoặc không kèm theo phạt tiền đến một triệu rúp hoặc bằng lương hay bằng thu nhập khác của người bị kết án đến năm năm hoặc không kèm theo bị hạn chế tự do đến hai năm.

So sánh với quy định về tội trộm cắp tài sản tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta thấy tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga có những điểm giống và khác nhau như sau: 

* Những điểm giống nhau: 

Thứ nhất, tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga Bộ luật Hình sự Việt Nam đều giống nhau những dấu hiệu định tội bản: đều xâm phạm sở hữu của người khác, đều hành vi khách quan hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản người khác, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý

Thứ hai, tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga Bộ luật Hình sự Việt Nam đều sử dụng trị giá tài sản làm sở để xây dựng các cấu thành định khung tăng nặng (nhưng Bộ luật Hình sự Liên Bang Nga không quy định trị giá tài sản bị trộm cắp làm dấu hiệu định tội như Bộ luật Hình sự Việt Nam)

* Những điểm khác nhau: 

Thứ nhất, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga đã làm ngay hành vi trộm cắp tài sản trong quy định của cấu thành bản, còn Bộ luật Hình sự Việt Nam không làm hành vi trộm cắp tài sản quy định giản đơn). Chúng tôi cho rằng đây một ưu điểm của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga chúng ta nên tiếp thu hoàn thiện Bộ luật Hình sự Việt Nam theo hướng quy định tả về hành vi trộm cắp tài sản ngay trong luật, đảm bảo việc hiểu áp dụng PLHS được thống nhất

Thứ hai, trong cấu thành bản của tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hình sự Liên Bang Nga không quy định dấu hiệu định lượng (tài sản bị trộm cắp tài sản trị giá bao nhiêu) thì bị xử hình sự; còn Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định dấu hiệu định lượng tài sản chiếm đoạt tài sản từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo các dấu hiệu định tội khác (đã bị xử hành chính, đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích)

Theo tác giả, điểm khác biệt này trong chừng mực nào đó thể hiện ưu điểm của Bộ luật Hình sự Việt Nam trong việc quy định tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự đảm bảo phân biệt giữa tội phạm vi phạm pháp luật hành chính, giữa tội phạm không phải tội phạm

Thứ ba, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga không quy định các trường hợp xử hình sự đối với các trường hợp xâm phạm sở hữu những điểm xấu về nhân thân hoặc các dấu hiệu khác không liên quan đến trị giá về tài sản bị chiếm đoạt như trong Bộ luật Hình sự Việt Nam: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản còn vi phạm, đã bị kết án chưa được xóa án tích còn vi phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn hội, tài sản phương tiện kiếm sống chính của người bị hại gia đình họ, tài sản di vật, cổ vật

Theo tác giả, đây điểm chúng ta cần tiếp thu bởi lẽ chúng ta quy định tội trộm cắp tài sản xử hình sự người phạm tội hành vi nguy hiểm cho hội do xâm phạm sở hữu của người khác chứ không phải do người đó điểm xấu về nhân thân hoặc những yếu tố theo ý chí chủ quan của người phạm tội không thể nào biết được phản ánh sự phủ định chủ quan của họ đối với hội như: tài sản phương tiện kiếm sống chính của người bị hại gia đình họ, tài sản di vật, cổ vật

Nghiên cứu các các ưu điểm hạn chế nêu trên về quy định tội trộm cắp trong Bộ luật Hình sự Việt Nam với quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga giúp chúng ta sở để hoàn thiện hơn quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam về tội trộm cắp tài sản 

2. Tội trộm cắp tài sản quy định trong Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức: 

Khác với Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam chỉ quy định tội trộm cắp tài sản một điều luật (Điều 173) còn Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức dành hẳn một chương riêng (Chương 19) quy định hành vi trộm cắp tài sản thành nhiều tội danh khác nhau. Cụ thể : Điều 242: Tội trộm cắp tài sản; Điều 243: Trường hợp đặc biệt nghiêm trọng của tội trộm cắp; Điều 244: Trộm cắp khí, trộm cắp băng nhóm, trộm cắp đột nhập nhà ; Điều 244a: Trộm cắp băng nhóm nghiêm trọng; Điều 247: Trộm cắp trong nhà trộm cắp trong gia đình; Điều 248a: Trộm cắp chiếm đoạt những đồ vật giá trị nhỏ; Điều 248c: Lấy trộm năng lượng điện

So sánh với quy định về tội trộm cắp tài sản tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta thấy tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức có những điểm giống và khác nhau như sau: 

* Những điểm giống nhau: 

Các tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hình sự Việt Nam đều giống nhau những dấu hiệu định tội bản: đều xâm phạm sở hữu của người khác, đều hành vi khách quan hành vi chiếm đoạt tài sản người khác, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý

* Những điểm khác nhau: 

Thứ nhất, khác với Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam chỉ quy định tội trộm cắp tài sản một điều luật (Điều 173) thì Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức dành hẳn một chương riêng (Chương 19) quy định hành vi trộm cắp tài sản thành nhiều tội danh khác nhau. Như vậy, Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức đã thể hiện sự phân hóa TNHS của các trường hợp trộm cắp tài sản thành nhiều tội danh khác nhau mỗi tội danh đều các khung hình phạt. So với quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam thì Bộ luật Hình sự Đức cho thấy thể hiện sự phân hóa TNHS chi tiết hơn Bộ luật Hình sự Việt Nam. Trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, việc phân hóa TNHS đối với các trường hợp trộm cắp tài sản chỉ bằng một tội danh với cấu thành tội phạm bản các cấu thành tội phạm tăng nặng. điểm khác này, chúng ta thể tiếp thu ưu điểm của Bộ luật Hình sự Liên bang Đức bằng cách nếu không phân hóa tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam thành các tội danh (do truyền thống lập pháp từ trước đến nay) thì cũng nên nghiên cứu bổ sung vào dấu hiệu định khung của tội trộm cắp các dấu hiệu định khung như: trộm cắp băng nhóm, trộm cắp đột nhập nhà , trộm cắp điện... để phân hóa TNHS tốt hơn đối với các trường hợp phạm tội trộm cắp tài sản

Thứ hai, Bộ luật Hình sựCộng hòa Liên Bang Đức không quy định trị giá tài sản trộm cắp tối thiểu để coi tội phạm (tương tự như quy định của Bộ luật Hình sự Liên bang Nga) như Bộ luật Hình sự Việt Nam. Chúng tôi cho rằng đây cũng một ưu điểm của Bộ luật Hình sự Việt Nam, việc quy định như vậy đảm bảo phân biệt tội trộm cắp tài sản với trường hợp không phải tội phạm đây ưu điểm chúng ta cần tiếp tục phát huy

Thứ ba, trong tất cả các tội danh trộm cắp tài sản của Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Đức đều không quy định dấu hiệu định tội đối với các trường hợp trộm cắp tài sản những điểm xấu về nhân thân hoặc các dấu hiệu khác không liên quan đến trị giá về tài sản bị chiếm đoạt như trong Bộ luật Hình sự Việt Nam: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản còn vi phạm, đã bị kết án chưa được xóa án tích còn vi phạm”, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn hội, tài sản phương tiện kiếm sống chính của người bị hại gia đình họ, tài sản di vật, cổ vật.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo