Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người qua các thời kỳ

Quy định về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người được quy định và phát triển theo quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật hình sự Việt Nam qua từng giai đoạn lập pháp hình sự.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người hiện nay được quy định thuộc nhóm các tội phạm về môi trường; do đó, để hiểu quá trình hình thành phát triển của các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người thì trước tiên cần xem xét, làm bước khởi đầu, diễn biến cũng như kết quả của quá trình lập pháp hình sự Việt Nam nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, xử các tội phạm về môi trường, cụ thể bao gồm các đặc điểm lịch sử của từng giai đoạn lập pháp hình sự sự liên hệ với các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Nhà nước

1. Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người trước BLHS 1999: 

Trong thời kỳ phong kiến, Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật) năm 1483 được cho bước đi đầu tiên xác định xử các hành vi xâm phạm tới môi trường sống tự nhiên, cụ thể trong chương Tạp Luật (Điều 83) quy định tội phạm về môi trường đó hành vi xâm hại đến lúa mạ, hoa quả của quan hay dân để mưu đồ lợi ích nhân. Mặc bị hn chế bởi quan niệm giai cấp, nhưng Bộ luật này cũng đã đưa ra nhiều quy định bảo vệ con người, trong đó cả việc bảo vệ những tầng lớp thấp trong hội (như bảo vệ quyền dân chủ, tự do của dân định; hình phạt chống lại sự tỳ hóa đối với dân đinh...) bảo vi trường sống tự nhiên. Tuy nhiên, việc xác định các hành vi xâm phạm đến môi trường sống tự nhiên chỉ được ghi nhận một cách đơn giản về việc tác động, làm thay đổi kết cấu môi trường tập trunvào đối tượng gây thiệt hại quan chức, quân n sở tại với hình phạt tội biếm hay đồ bồi thường thiệt hại

Đến thế kỷ XX, khi nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, pháp luật dần dần bị thay thế bởi các bộ hình luật riêng do thực dân Pháp ban bố, thi hành, trong đó có Hoàng Việt Hình luật (Bộ luật Gia Long) BLHS thi hành Trung Km Bảo Đi thứ 8 (1933). Trong đó, nh vi xâm phạm đến môi trường sống xung quanh (xâm chiếm, làm ô uế, làm hỏng các phố, ngõ, đường, lộ) cũng được quy định tại Quyển XXI, Công luật, Chương II, Điều 3 Bộ luật này. Những quy định này giá trị cho hệ thống pháp luật đương đại trong việc yêu cầu các chủ thể thẩm quyền phải xét xử nghiêm minh, tạo sự công bằng cho người dân, tránh bỏ lọt tội phạm tránh oan sai

Trước khi sự ra đời của BLHS m 1985, Nhà nước ta hầu như chưa quy định chính thức nào về các tội phạm về môi trường, trừ một vài văn bản pháp luật quy định về việc bảo vệ tài nguyên rừng (như Thông liên Bsố 1303_BCNVVN ngày 28/6/1946 của Liên Bộ Nội vụ Canh nông về việc bảo vệ rừng; Nghị định số 596/TTg ngày 3/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều ltạm thời về khai thác gỗ, củi). Nvậy, mặc pháp luật nước ta lúc bấy giờ đã có sự nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ một trong những nguồn tài nguyên quý giá của đất nước bằng pháp luật hình sự, tuy nhiên những vấn đề khác về môi trường như dịch bệnh truyền nhiễm chưa được ghi nhận điều chỉnh. Hơn nữa, vào thời điểm này những vấn đề về môi trường chưa đáng lo ngại như hiện nay

Vào những năm 1980, Nhà nước ta đã quan tâm hơn đến vấn đề bảo vệ môi trường. Đây chính kết quả của việc thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống của con người. Mở đầu cho những hoạt động lập pháp ý nghĩa đối với việc bảo vệ môi trường việc tạo ra một sở pháp quan trọng tại Điều 13 Hiến pháp nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980: Các quan Nhà ớc, xí nghiệp, hợp tác , đơn vị vũ trang nhân dân công dân đều nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vcải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ cải tạo môi trường sống. Bước đầu nhn thức được chủ trương mang nh Hiến định này, các nhà làm luật khi xây dựng BLHS năm 1985 đã đưa vào đó một số điều luật quy định các tội phạm về môi trường, trong đó các hành vi liên quan đến dịch bệnh, cụ thể tại Điều 195 về Tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường y hậu qunghiêm trọng quy định như sau

1. Người o vi phạm các quy định về gigìn vệ sinh công cộng, vphòng ngừa chống dịch bệnh, về bảo vmôi trường gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt từ ba tháng đến hai năm. 2. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt từ một năm đến năm năm.” 

Việc quy định một số tội phạm liên quan đến môi trường nêu trên đã cho thấy một bước phát triển mới trong nhận thức cũng như trong hành động của Nnước Việt Nam đối với vấn đề bảo vệ môi trường bằng pháp luật hình sự. Tuy nhiên, quy định trên vẫn còn còn mang tính chất chung chung, cả về tội danh lẫn sự tả các dấu hiệu của cấu thành tội phạm chưa làm nổi bật mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với sức khỏe, tính mạng của con người. Vào thời điểm đó, BLHS năm 1985 chưa tiên liệu hết sự đa dạng cũng như tính chất nguy hiểm cho hội của một số hành vi xâm hại môi trường. Theo một nghiên cứu đánh giá: BLHS năm 1985 chưa thể hiện được tính cấp bách tầm quan trọng đặc bit của việc đấu tranh với các hành vi m hại môi trường. Điều này không chỉ thể hiện qua việc BLHS năm 1985 chưa dành riêng một cơng cho các tội phạm vmôi trường, mà còn ddàng nhận thấy qua việc một số tội phạm về môi trường được gặp lại với những tội phạm khác được hiểu không phi với cách những tội phạm về môi trường. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhanh như hiện nay, sự suy thi nhanh của các thành tố môi trường cùng với các tác hại của đối với đời sống xã hội đang đặt ra một yêu cu bức xúc cho việc bảo vệ môi trường sinh thái

2. Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người từ BLHS 1999 đến nay: 

Vào những năm tiếp theo, nhận thức của Việt Nam về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường ngày càng trở nên sâu sắc hơn. Hiến pháp nước ta năm 1992 đã bổ sung quy định: quan Nhà nước, đơn vị trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi nhân phải thực hiện các quy định của Nhà ớc vsử dụng hợp lý tài nguyên thn nhiên bảo vệ môi trường. Nghiêm cấm mọi hành động m suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường. Bên cạnh đó, ngày 25/6/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36/CTTW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó nhấn mạnh: Bảo vi trường vấn đsống còn của đất nước, của nhân loại, đồng thời đưa ra một số giải pháp bản trong đó giải pháp hoàn chỉnh hệ thống văn bn pháp luật về bảo vệ môi trường. Trong Tờ trình Quốc hội về dự án BLHS (sửa đổi) của Chính phủ số 1218/CPPC ngày 19/10/1998, một trong những quan điểm được quán triệt trong quá trình soạn thảo Bộ luật bảo vệ môi trường sinh thái. Những quan điểm chỉ đo nêu trên của Đảng Nhà nước ta đã trở thành định hướng quan trọng cho việc xây dựng quy định về các tội phạm về môi trường trong BLHS năm 1999. Liên quan đến hành vi làm lây lan dịch bệnh, lần đầu tn tại Điều 186 BLHS năm 1999 quy định điều luật riêng về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người, cụ thể

1. Người nào một trong các hành vi sau đây làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người, thì bị phạt từ một năm đến năm m:

a) Đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác khả ng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người;

b) Đưa vào hoặc cho phép đưa vào Việt Nam động vật, thực vật hoặc sản phẩm đng vật, thực vật bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh nguy hiểm khnăng truyền cho người;

c) Hành vi khác làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người.

2. Phạm tội y hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt từ năm m đến mười hai năm.

3. Người phạm tội còn thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chc vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một m đến m năm

Điều luật trên đã cho thấy nhận thức về tầm nguy hiểm của dịch bệnh các phương án an toàn vệ sinh dịch tễ ngày càng được nâng cao, sức khỏe tính mạng cộng đồng cũng được chú trọng hơn, bởi lẽ, trong giai đoạn này, ngày càng nhiều những dịch bệnh nguy hiểm trên thế giới có tốc độ lây lan chóng mặt xuất hiện không chỉ Việt Nam trên toàn thế giới (như cúm gia cầm H5N1, dịch SARS, dịch sốt xuất huyết...) đến nay thể kể đến đại dịch toàn cầu COVID19

Đến nay, sự nguy hiểm của những dịch bệnh truyền nhiễm đang thể hiện rất bởi những hậu quả nghiêm trọng gây ra, thậm chí chưa dấu hiệu chấm dứt như sự xuất hiện của dịch COVID19. Việc hoàn thiện khung pháp luật, nhất là pháp luật hình sự, nhằm ngăn chặn, xử các hành vi làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm theo đó trở nên ngày càng quan trọng, góp phần đáng kể vào việc phòng ngừa, ngăn chặn sự lây lan nhanh chóng của dịch bệnh cũng như bảo vệ sức khỏe, tính mạng cộng đồng. Chính vậy, BLHS năm 2015 của nước ta ra đời tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy định về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người trong BLHS năm 1999 và chính thức ghi nhận tại Điều 240 với nội dung gồm bốn điều khoản cụ thể sẽ được phân tích trong các phần tiếp theo.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo