Thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp khi kinh doanh chứng khoán 

Hoạt động kinh doanh chứng khoán nếu không chịu thuế GTGT thì sẽ không được khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho hoạt động không chịu thuế GTGT.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Thuế giá trị gia tăng trong hoạt động kinh doanh chứng khoán: 

Thuế GTGT sắc thuế phổ biến quan trng không chViệt Nam mà còn trên phạm vi toàn thế giới. Theo Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế (OECD) năm 2016 đã hơn 160 quốc gia áp dụng thuế này. Cốt lõi của việc mở rộng thuế GTGT do các quốc gia muốn gim thuế suất thuế TNDN của họ như một phương pháp nhằm thu t giữ chân các doanh nghiệp. Hầu hết các quốc gia, trong hầu hết các giai đoạn lch sử của họ, đã dựa o thuế thu nhập để hỗ trợ kho bạc của họ,ông Gino Dossche, Lãnh đạo Báo cáo Tuân thủ Thuế Gián thu của EY Americas nói. Bằng cách giới thiệu VAT, tăng thuế suất thuế VAT, hoặc thực hiện các biện pháp mở rộng sở, họ thể giảm hoặc ít nhất là tránh được việc tăng thuế suất thuế TNDN không bị thất thu thuế, tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đây được coi khon thuế gián thu được nộp vào ngân sách nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ

Từ năm 2009 đã nhiều quy định nhằm tháo gỡ khó khăn, bất cập, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo ra những bước tiến mới trong cải cách chính sách thuế. Quy định của luật thuế GTGT thay đổi về ngưỡng doanh thu để áp dụng hình thức khai thuế GTGT phù hợp với hoạt động kinh doanh, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế sự quản của nhà nước

Tại điểm c, khoản 8, điều 4 Thông 219/2013/TTBTC quy định đối tượng không chịu thuế GTGT : Kinh doanh chứng khn bao gồm: Môi giới chứng khoán, tdoanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, vấn đầu chứng khoán, lưu chứng khoán, quản quỹ đầu chứng khoán, quản công ty đầu chứng khoán, quản lý danh mục đầu chứng khoán, dịch vụ tổ chức thị trường của sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán, dịch vụ liên quan đến chứng khoán đăng , lưu ký tại Trung tâm Lưu Chứng khoán Việt Nam, cho khách hàng vay tiền để thực hiện giao dịch quỹ, ứng trước tiền bán chứng khoán hoạt động kinh doanh chứng khoán khác theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Hoạt động cung cấp thông tin, tổ chức n đấu giá cổ phần của c tổ chức phát hành, hỗ trợ kỹ thuật phục vụ giao dịch chứng khoán trực tuyến của Sở Giao dịch chứng khoán. Tại điểm c, khoản 2, điều 3 Nghị định số 209/2013/CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT thì hoạt đng KDCK không chịu thuế GTGT áp dụng với đối tượng: Kinh doanh chứng khoán bao gồm: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khn, bảo lãnh phát hành chứng khoán, vấn đầu chứng khoán, lưu chứng khoán, quản quđu tư chứng khoán, quản công ty đầu chứng khoán, quản danh mục đầu chứng khoán, dịch vụ tổ chức thị trường của sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán, dịch vụ liên quan đến chứng khoán đăng , lưu tại Trung tâm Lưu Chứng khoán Việt Nam, cho khách hàng vay tiền để thực hiện giao dịch quỹ, ứng trước tiền bán chứng khoán hoạt động kinh doanh chứng khoán khác theo quy định của pháp lut về chứng khn.” 

Tại điểm 28 điều 4 điều 86 Luật chứng khoán 2019 thì c hoạt động như vấn tài chính (hoạt động vấn phát hành chứng khoán), đại phát hành trái phiếu giấy tờ giá đều được coi hoạt động KDCK. Tuy nhiên, các hoạt động trên lại không được coi hoạt động KDCK theo quy đnh của Thông 219/2013/TTBTC Nghị định 209/2013/CP. Do đó, thực tế các hoạt động này vẫn phải chịu thuế GTGT theo quy định Luật thuế GTGT với thuế suất 10%. Như vậy, mặc KDCK nhiều hoạt động khác nhau nhưng chỉ những hoạt động được Luật thuế quy định cụ thể mới không chịu thuế GTGT. Đây điểm khác biệt, thiếu nhất quán giữa Luật thuế GTGT Luật chứng khoán trong hoạt động KDCK

Các đối tượng tham gia hoạt động KDCK ncông ty chứng khoán, công ty quản quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán,… khi thực hiện các hoạt động kinh doanh khác không thuộc lĩnh vực KDCK vẫn chịu thuế GTGT. Cụ thể một số hoạt động như các hoạt động vấn tài chính như vấn tái cấu, sáp nhập, hợp nhất, tổ chức lại, mua n công ty, vấn quản trị doanh nghiệp, vấn chiến lược doanh nghiệp, vấn chào bán, niêm yết chứng khoán, vấn cổ phần hóa, xác định gtrị doanh nghiệp các hoạt động vấn khác. Các hoạt động này vẫn chịu thuế GTGT với thuế suất 10% giá trị dịch vụ theo quy định hiện hành. Trong trường hợp này, chủ thể chịu thuế tổ chức, nhân trực tiếp sử dụng các dịch vụ không thuộc hoạt động KDCK. Chủ thể nộp thuế tổ chức cung cấp dịch vụ

Nvậy, hoạt động KDCK không chịu thuế GTGT thì sẽ không được khấu trừ và hoàn thuế GTGT đu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho hot động không chịu thuế GTGT. Nếu sử dụng hóa đơn GTGT thì trên hóa đơn chỉ ghi giá bán (giá không thuế GTGT) không ghi phần tiền thuế, thuế suất. Đối với các hoạt động khác chịu thuế GTGT thì vẫn được khai, khấu trừ hoàn thuế GTGT theo quy định pháp luật thuế. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp hiện nay gặp khó khăn khi bóc tách, phân bổ nguồn thu của cùng một khoản thu đầu vào phát sinh liên quan đến hai hoạt động kinh doanh chịu thuế và không chịu thuế GTGT.

2. Thuế thu nhập doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh chứng khoán: 

Thuế TNDN áp dụng đối với các thu nhập từ chuyển nhượng nhượng chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ,...), thu nhập từ hoạt động kinh doanh chứng khoán (môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản danh mục đầu chứng khoán,...) tiền lãi từ tiền vay. Chủ thể nộp thuế là doanh nghiệp, tổ chức thu nhập từ hoạt động KDCK như công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, tổ chức đầu chứng khoán,..

Thu nhập tính thuế từ hoạt động chuyn nhượng chứng khoán được xác định bằng giá bán chứng khoán trừ đi giá mua chứng khn các chi phí kc liên quan đến chuyển nhượng

Giá bán chứng khoán được xác định giá bán thực tế chứng khoán (giá khớp lệnh, giá thỏa thuận) của chứng khoán niêm yết, chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết nhưng đăng giao dịch tại trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc giá bán ghi trong hợp đồng chuyển nhượng của các loại chứng khoán khác

Giá mua chứng khoán được xác định gthực mua chứng khoán (gkhớp lệnh, giá thỏa thuận) đối chứng khoán niêm yết, chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết nhưng đăng giao dịch tại trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc giá trên thông báo kết quả trúng đấu giá (với chứng khoán mua qua đấu giá) hoặc ghi trên hợp đồng chuyển nhượng (với các loại chứng khoán khác)

Chi phí khác liên quan đến chuyển nhượng các khoản chi phí như chi phí pháp làm thủ tục chuyển nhượng, chi phí lệ phí phải nộp, chi phí lưu chứng khoán, chu phí ủy thác chứng khoán, chi phí giao dịch, đàm phán, hợp đồng chuyển nhượng,... Các chi phí này đòi hỏi phi đầy đủ chứng từ, hóa đơn hợp pháp

Thu nhập tính thuế từ hoạt động kinh doanh chứng khoán được xác định bằng doanh thu từ dịch vmôi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản danh mục đầu chứng khoán, vấn tài chính, vấn đầu chứng khoán, quản quỹ đầu chứng khoán, phát hành chứng chỉ quỹ, dịch vụ tchức thị trường,... trừ đi chi phí được trừ liên quan đến hoạt động kinh doanh chứng khoán.

2.1. Đối với công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán: 

Thuế TNDN của chủ thể trên gồm các giai đoạn sau

Từ năm 2000 đến 1/1/2004: Đây thời điểm TTCK mới nh thành, các hoạt động đầu qua TTCK chưa phổ biến nên chế riêng với hoạt động KDCK. Để khuyến khích các chủ thể tham gia TTCK, Chính phủ ra Quyết định số 39/2000/QĐTTg ngày 27/3/2000 quy định ưu đãi thuế đối với hoạt động KDCK. Cụ thể, ng ty chứng khoán và công ty quản quỹ được miễn thuế TNDN một năm giảm 50% thuế TNDN phải nộp trong 02 năm tiếp theo. Hết thời hạn ưu đãi, công ty chứng khoán và công ty quản quỹ thực hiện nộp thuế TNDN theo quy định tại Khoản 1, Điều 10 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997 với thuế suất 32% như với các doanh nghiệp thông thường khác

Từ ngày 1/1/2004 đến 25/10/2006: Thời gian này một loạt các chính sách thuế mới hiệu lực. Các doanh nghiệp thông thường phải đóng mức thuế TNDN 28%. Tuy nhiên, ngày 20/10/2004 Bộ Tài chính ban hành Thông s100/2014/TTBTC hướng dẫn riêng về thuế GTGT thuế TNDN trong lĩnh vực KDCK. Theo đó, công ty chứng khoán công ty quản quỹ được hưởng thuế suất thuế TNDN ưu đãi 20% trong 10 năm từ ngày khai trương hoạt động kinh doanh. Hết thời hạn được hưởng ưu đãi trên thì áp dụng nộp thuế như đối với doanh nghiệp thông thường là 28%. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn được miễn thuế TNDN 2 năm từ ngày thu nhập chịu thuế và giảm 50% thuế suất phải nộp trong 3 năm tiếp theo. Các ưu đãi trên chỉ áp dụng cho công ty hạch toán độc lập, tuân thủ các quy định về chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ,..

Từ ngày 25/10/2006 đến 31/12/2008: Luật đầu từ năm 2006 hiệu lực quy định hoạt động đầu , KDCK không thuộc lĩnh vực ưu đãi thuế. Theo đó, công ty chứng khoán công ty quản quỹ được thành lập từ ngày Nghị định 108/2006/CP ban nh ngày 22/9/2006 hướng dẫn Luật đầu tư hiệu lực thì chịu thuế suất thuế TNDN 28% như đối với doanh nghiệp thông thường. Công ty chứng khoán công ty quản quỹ thành lập trước thời gian Nghị định 108/2006/NĐCP hiệu lực thì vẫn được hưởng ưu đãi theo quy định trong thời gian còn lại. Hết thời gian hưởng ưu đãi thuế TNDN thì thực hiện khai nộp thuế theo quy định chung. vậy, sau thời điểm này, các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán khi không được hưởng ưu đãi nữa sẽ nỗ lực tái cấu trúc, nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại trên thị trường

Từ ngày 1/1/2009 đến 15/2/2014 Luật Thuế TNDN số 14/2008/QH12 hiệu lực thi hành. Theo đó, các công ty chứng khoán, công ty quản quỹ được hưởng thuế suất thuế TNDN 25% tương tự như các doanh nghiệp thông thường khác

Từ ngày 15/2/2014 đến nay: Thuế suất thuế TNDN áp dụng đối với công ty chứng khoán công ty quản quỹ doanh thu không quá 20 tỷ đồng/năm 20% doanh thu từ 20 tỷ đồng trở lên 22%. Từ ngày 1/1/2016, công ty chứng khoán và công ty quản quỹ áp dụng chung thuế suất thuế TNDN 20% như các doanh nghiệp khác

2.2. Đối với tổ chức đầu tư chứng khoán:

Trước đây, tổ chức đầu chứng khoán áp dụng chính sách thuế theo Thông 100/2014/TTBTC ngày 20/10/2004 quy định hướng dẫn về thuế GTGT thuế TNDN trong lĩnh vực chứng khoán. Theo tiết 2.1, điểm 2, mc III của Thông này thì thu nhập từ đầu chứng khoán trong kỳ tính thuế của tổ chức đầu chứng khoán phải gộp chung với thu nhập từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy đnh chung 28%

Ngày 10/8/2006, Thông 72/2006/TTBTC hiệu lực bổ sung thêm quy định trong trường hợp tổ chức đầu chứng khoán thực hiện đầu qua Quỹ đầu chứng khoán thì mức thuế suất thuế TNDN phi np 20%

Từ ngày 1/1/2009, Luật thuế TNDN mới hiệu lực, các tổ chức đầu chứng khn thực hiện chính sách thuế theo quy định của Luật này. Cụ thểmức thuế suất đối với tổ chức này 25% căn cứ theo khoản 1, điều 10, Luật thuế TNDN 2008.

2.3. Đối với Quỹ đầu tư chứng khoán:

Theo quy định của Luật thuế TNDN thì quỹ đầu tư chứng khoán không cách pháp nhân, không thuộc đối tượng nộp thuế TNDN. Khi quỹ đầu chia lợi tức cho nhà đầu tổ chức thì tổ chức đó chịu thuế TNDN không phân biệt tổ chức trong nước hay nước ngoài, nếu chia lợi tức cho nhà đầu tư nhân thì nhân đó chịu thuế thu nhập nhân. Tuy nhiên, phần lợi tức đã chia đã chịu thuế TNDN khâu trước lãi trái phiếu thu được từ trái phiếu thuộc diện miễn thuế theo quy định thì sẽ chịu thuế thu nhập

Công ty quản quỹ đầu tư chứng khoán sẽ phải khấu trừ thuế phải nộp trước khi chia cổ tức cho nhà đầu phải khai, nộp thuế cho nhà đầu . Trường hợp nhà đầu tổ chức nhu cầu tự khai, tự nộp thuế chung với hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức thì công ty quản quỹ chứng khoán sẽ không khấu trừ thuế tại nguồn khi chia cổ tức cho nhà đầu đó.

2.4. Đối với các tổ chức khác:

Với các tổ chức nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam, phát sinh thu nhập Việt Nam trên sở hợp đồng, thỏa thuận hoặc cam kết của họ với tổ chức, nhân Việt Nam thì áp dụng chính sách thuế TNDN theo quy định của Thông 103/2014/TTBTC của Bộ Tài chính ngày 6/8/2014 hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc thu nhập tại Việt Nam. Theo quy định này thì thuế chuyển nhượng chứng khoán áp dụng thuế suất 0.1% trên doanh thu bán chứng khoán ti thời điểm chuyển nhượng, 5% trên lãi tiền vay trừ trái phiếu thuộc diện miễn thuế, thu nhập từ cổ tức thì không phải chịu thuế.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo