Thực hiện quyền đưa ra chứng cứ của người bào chữa theo BLTTHS

Song song với quyền thu thập chứng cứ là quyền đưa ra chứng cứ hay yêu cầu của người bào chữa chính thức được áp dụng trong hoạt động bào chữa cho người bị buộc tội để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng cho người được bào chữa.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Người bào chữa chính thức tham gia tố tụng với cách người bào chữa cho người bị buộc tội, bị can, bị cáo kể từ khi quan tiến hành tố tụng thẩm quyền vào sổ đăng bào chữa thông báo về việc đăng bào chữa. Kể từ ngày đó, song song với quyền thu thập quyền đưa ra chứng cứ hay yêu cầu của người bào chữa chính thức được áp dụng trong hoạt động bào chữa cho người bị buộc tội. Xem quyền đưa ra chứng cứ khía cạnh chứng minh việc gỡ tội cho người bị buộc tội thì lẽ cách giải thích Nội dung của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự thu thập, kiểm tra đánh giá các thông tin, liệu liên quan ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án hình sự (chứng cứ)vẫn còn thiếu một vế đưa ra chứng cứ. Những phân tích dưới đây của tác giả, rất hy vọng sẽ làm hơn nữa về quá trình chứng minh trong luật tố tụng hình sự

1. Thời điểm thực hiện quyền đưa ra chứng cứ: 

Để vụ án được giải quyết nhanh chóng kịp thời tránh cho những hậu quả đáng tiếc thể xảy ra thì Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định tại điều 81 về thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa

Tùy từng giai đoạn tố tụng, khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa, người bào chữa phải kịp thời giao cho quan thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ vụ án. Việc giao, nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này

Như vậy, tại bất kỳ thời điểm nào của một trong các giai đoạn tố tụng nêu trên thì người bào chữa khi thu thập được chứng cứ liên quan đến việc bào chữa gỡ tội hay tội phải đưa ra, giao cho quan thẩm quyền tiến hành tố tụng trong giai đoạn đó và thể yêu cầu người thẩm quyền tiến hành tố tụng, quan thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá chứng cứ. Việc đưa ra chứng cứ kịp thời sẽ giúp bảo vệ người bị buộc tội quan người tiến hành tố tụng tránh được những sai sót hay những nghi ngờ trong việc buộc tội hạn chế được những hậu quả cùng bất lợi cho người bị buộc tội trong những trường hợp bị buộc tội, kết tội oan sai cho người tội  (vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn Bắc Giang). những hậu quả khôn lường đối với quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã phải trả một cái giá cùng đắt đỏ trong thực tiễn chúng ta đã từng chứng kiến những vụ án đau xót như thế. (Vụ án hai cựu cán bộ cựu Điều tra viên kiểm sát viên gây oan sai cho ông Nguyễn Thanh Chấn)

Quyền đưa ra chứng cứ trong giai đoạn điều tra 

Khi nhận được thông báo về việc đăng bào chữa thì người bào chữa chính thức tham gia tố tụng với cách người bào chữa cho người bị buộc tội. Giai đoạn điều tra giai đoạn đầu của quá trình bào chữa người bào chữa thực hiện việc bào chữa cho người bị buộc tội nên việc đưa ra chứng cứ do người bào chữa đã thu thập được ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo vệ cho người bị buộc tội. (1) Tùy thuộc vào chứng cứ của người bào chữa đưa ra quan điều tra thể thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế hoặc các quyết định tạm đình chỉ điều tra... hoặc ghi nhận các tình tiết giảm nhẹ khi kết luận điều tra trong trường hợp đề nghị truy tố, (2) Giảm thiểu được những rủi ro pháp liên quan đến trách nhiệm (thể trách nhiệm hình sự) của những người tiến hành tố tụng; (3) Tránh được những ảnh hưởng xấu đến uy tín của quan tiến hành tố tụng

Quyền đưa ra chứng cứ trong giai đoạn truy tố 

Chứng cứ người bào chữa thu thập được trong giai đoạn truy tố từ người bị buộc tội, bị can, người làm chứng, người khác biết về vụ án được đưa ra hoặc gửi đến cho Viện kiểm sát ý nghĩa quan trọng (1) Cho bản thân người bị buộc tội khi chứng cứ (tài liệu, vật chứng) tính chất quan trọng trong quá trình điều tra của Điều tra viên, cán bộ điều tra giai đoạn điều tra chưa thu thập hoặc thu thập không đầy đủ. Khi đưa ra chứng cứ kèm theo bản yêu cầu đánh giá chứng cứ của người bào chữa thì Viện kiểm sát bằng chức năng thẩm quyền của mình thể sẽ phải ra một trong các quyết định lợi cho người bị buộc tội, như: (1) Trả hồ để điều tra bổ sung; (2) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, (3) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, hoặc (4) Thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp bắt buộc chữa bệnh hay (5) Nhập hoặc tách vụ án trong giai đoạn truy tố, (6) các tình tiết giảm nhẹ ..

Quyền đưa ra chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử tại phiên tòa 

nhiều vụ án khi được đưa ra xét xử đã phát sinh tình tiết mới do những người tham gia tố tụng cung cấp. Đã không ít trường hợp người tham gia tố tụng bị cáo, người bào chữa cung cấp chứng cứ mới trong khi phiên tòa đã được mở Hội đồng xét xử tiến hành xét xử. Trường hợp chứng cứ được cung cấp tại phiên tòa Hội đồng xét xử không thể thẩm tra tính hợp pháp của chứng cứ nên đã phải Dừng phiên tòa  thể kể đến vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sảnliên quan đến bà Trương Hồ Phương Nga, hay phải trả hồ để điều tra bộ sung như vụ án giao cấu với người từ 13 đến dưới 16 tuổi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi người bào chữa thu thập chứng cứ bị cáo Đảng viên trong quá trình chuẩn bị xét xử đưa ra tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử đã phải trả hồ để điều tra bổ sung tình tiết này không thể làm tại phiên tòa, hoặc nhiều trường hợp khi người tham gia tố tụng (bị cáo, người bào chữa) cung cấp chứng cứ tại phiên tòa chứng cứ này chứng cứ mới thể làm thay đổi toàn bộ bản chất vụ án thì Hội đồng xét xử phải trả hồ để điều tra bổ sung. Các trường hợp đưa ra chứng cứ của người tham gia tố tụng bị cáo tại phiên tòa diễn ra khá phổ biến do tâm của chính bị cáo với mong muốn khi ra tòa mới đưa ra khi xét xử sẽ được Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá một cách công khai sẽ lợi hơn cho họ

2. Cách thức đưa ra chứng cứ: 

Đưa ra chứng cứ trực tiếp. người bào chữa trực tiếp đưa ra, giao nộp chứng cứ cho cơ quan thẩm quyền tiến hành tố tụng để xem xét, đánh giá đưa vào hồ vụ án khi giải quyết vụ án. Khi giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật trực tiếp cho quan tiến hành tố tụng phải được lập biên bản theo quy định của tại Điều 133 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Đưa ra chứng cứ gián tiếp. Ngoài cách thức người bào chữa trực tiếp đưa ra chứng cứ của vụ án liên quan đến việc bào chữa trực tiếp cho quan thẩm quyền tiến hành tố tụng, còn cách thức đưa ra chứng cứ không phải lập biên bản theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đó là thông qua một hay các bên trung gian Bưu điện, công ty chuyển phát nhanh. Việc giao chứng cứ cho quan thẩm quyền tiến hành tố tụng của quan chuyển phát không được lập thành biên bản nhưng người nhận phải nhận vào bên nhận trong hóa đơn báo phát, hóa đơn này xác nhận với người gửi nơi nhận đã nhận được tài liệu bên gửi muốn gửi tới

Hai cách thức đưa ra chứng cứ trên đều những thuận lợi những bất cập riêng. Tuy nhiên, cách thức đưa ra chứng cứ gián tiếp những rủi ro nhất định ảnh hưởng không nhỏ tới việc xem xét kịp thời của chứng cứ, do (1) thời gian dài, (2) thất lạc tài liệu, chứng cứ, (3) không đến tay người thẩm quyền do nguyên nhân khách quan chủ quan của người nhận, (4) bị tiêu hủy ...

3. So sánh quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa với người thẩm quyền tiến hành tố tụng: 

Lần đầu tiên, trong lịch sử lập pháp tố tụng hình sự quyền thu thập chứng cứ được trao cho chủ thể không mang tính quyền lực nhà nước. Đây một bước tiến gần đến hoàn thiện PLtố tụng hình sự trong hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền. Quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa được ghi nhận một cách chính thức trong pháp luật tố tụng hình sự bằng quy định tại điểm h khoản 1 điều 73 trong BLtố tụng hình sự năm 2015: Người bào chữa quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Sự ghi nhận quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa trong hoạt động tố tụng hình sự một sự khẳng định của Nhà nước bảo đảm cho người bào chữa được sự bình đẳng với bên buộc tội. Bên cạnh đó, sự khẳng định cũng chính sự bảo đảm cho bị buộc tội được hưởng sự công bằng trong hoạt động tố tụng hình sự

Tác giả cho rằng người bào chữa người thẩm quyền tiến hành tố tụng đều một điểm chung đó Bảo vệ pháp chế XHCN bảo vệ quyền của người bị buộc tội

Nếu so sánh quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa với người tiến hành tố tụng thì nhiều điểm khác nhau. Khác biệt đầu tiên đó người bào chữa chủ thể không mang tính quyền lực nhà nước, trong khi đó người thẩm quyền tiến hành tố tụng là chủ thể mang tính quyền lực nhà nước sức mạnh cưỡng chế rất cao. Thứ hai, đó quan thẩm quyền tiến hành tố tụng quyền yêu cầu quan, tổ chức, nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án (khoản 1 điều 88), còn người bào chữa chỉ quyền đề nghị trong phạm vi hẹp hơn quan, tổ chức, nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa, không quyền đề nghị họ trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án trong đó những nội dung liên quan đến việc bào chữa. Thứ ba, để thực hiện việc thu thập chứng cứ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng được sử sử dụng sức mạnh của nhà nước để phối hợp với các đơn vị chức năng diện bao phủ rộng khắp từ Trung ương tới cấp /phường, còn người bào chữa người bị buộc tội hoạt động độc lập không mang tính quyền lực nhà nước nên đề nghị các quan, tổ chức giúp đỡ cũng rất khó khăn chứ chưa nói đến việc phối hợp thực hiện. 

Xin đơn cử một dụ về sự hợp tác của chính quyền địa phương trong quá trình giải quyết: Vụ án Phí Văn Nhi phạm tội Giết ngườiNội, quá trình tiếp cận hồ vụ án bị cáo, người bào chữa phát hiện người dân sống gần địa điểm nơi tội phạm xảy ra đã chứng kiến việc làm của bị hại những bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Từ thông tin đó người bào chữa liên hệ gặp, nghe họ trình bày về những họ biết được người đó hoàn toàn giúp đỡ để làm chứng. Khi người bào chữa liên hệ với UBND nơi người làm chứng trú đề nghị tạo điều kiện để chứng kiến xác nhận những thông tin người làm chứng cung cấp cho người bào chữa bằng văn bản (bản trình bày lời khai) nhưng khi người bào chữa người làm chứng tới UBND thì không được sự giúp đỡ từ phía chính quyền viện nhiều do khiến việc thu thập rất khó khăn

Mặc quyền thu thập chứng cứ đã được quy định cho người bào chữa nhưng chỉ trong phạm vi hẹp còn CQtiến hành tố tụng vẫn chủ thể quyền chủ động hoàn toàn trong toàn bộ quá trình tố tụng nói chung trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ hồ vụ án căn cứ duy nhất hợp pháp để phán quyết một người tội hay không tội . Thật vậy, xét từ phân tích trên cho thấy quyền của người bào chữa so với quyền của bên buộc tội thì mức độ chênh lệch rất lớn đã dẫn đến không thể đạt được sự bình đẳng như nguyên tắc bình đẳng trong hệ thống pháp hình sự trong Nhà nước pháp quyền.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo