So sánh quy định phòng vệ chính đáng giữa Việt Nam và Canada

Trong BLHS Canada năm 2013 đã dành ra 5 Tiết (Tiết 27, Tiết 30, Tiết 32, Tiết 34 và Tiết 35) để quy định các vấn đề liên quan đến Phòng vệ chính đáng. BLHS Việt Nam năm 2015 dành ra 1 Điều luật cho vấn đề này (Điều 22), nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ, chi tiết.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

thể thấy chế định phòng vệ chính đáng theo pháp luật hình scủa Canada quy định khá chi tiết đy đủ hơn so với pháp luật Việt Nam. Trong khi BLHS Canada năm 2013 đã dành ra 5 Tiết (Tiết 27, Tiết 30, Tiết 32, Tiết 34 Tiết 35) để quy định các vấn đề liên quan đến Phòng vệ chính đáng thì BLHS Việt Nam năm 2015 chỉ dành ra 1 Điều luật cho vấn đề này (Điều 22). Tuy nhiên, điều này không nghĩa Luật hình sự Việt Nam không quy định ràng các trường hợp phòng vệ chính đáng. Như đã trình bày, mặc chỉ một điều luật quy định về phòng vệ chính đáng, nhưng đã văn bản ớng dẫn cụ thể được ban hành trước đó, đó chính Nghị quyết số 02/HĐTPTANDTC/này 05/01/1986 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS. Mặc văn bản được hướng dẫn BLHS năm 1986 đã hết hiệu lực, nhưng những nội dung hướng dẫn về phòng vệ chính đáng vẫn được đưa ra để tham khảo

Sau khi phân tích, đánh gđầy đủ về bản chất cũng như chi tiết các điều luật quy định vphòng vệ chính đáng giữa hai quốc gia, tác giả luận văn đã rút ra những kết luận về sự giống nhau khác nhau giữa chế định phòng vệ chính đáng của pháp luật hình sự của Việt Nam Canada

1. Một số điểm tương đồng giữa các quy định về phòng vệ chính đáng của Pháp luật hình sự Việt Nam và Pháp luật hình sự Canada: 

Nhìn chung, về tinh thần pháp luật, chế định phòng vệ chính đáng của pháp luật hình sự Việt Nam và Canada bản giống nhau

Thứ nhất, cả Canada Việt Nam đều quan niệm phòng vệ chính đáng một quyền của con người không phải chu trách nhiệm hình sự. Tại Điều 7 của Hiến chương về các quyền tự do của Canada quy định như sau

Mọi người đều quyền được sống, quyền tự do an ninh cho bản thân mình quyền này skhông bị tước đoạt trừ khi tuân theo các nguyên tắc công bản. Đồng thời, Hiến pháp Việt Nam hiện hành cũng quy định

Mọi người quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thểsức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm

Hai quốc gia đều xác lập quyền được đảm bảo an ninh cá nhân, đảm bảo về sức khotính mạng. Như vậy, việc chống trả lại một hành vi đang xâm phạm tới sức khoẻ, tính mạng của bản thân của người khác một quyền chính đáng của con người. Việc cả hai quốc gia đều xác lập phòng vệ chính đáng một quyền bản của con người phù hợp với bản chất ca hành vi phòng vệ chính đáng cũng như sự văn minh, hiện đại của thời đại

Khi một hành vi được đánh giá phòng vệ chính đáng thì người thực hiện hành vi đó không phải chịu trách nhiệm hình sự. Nội dung này cũng được cả hai quốc gia Việt Nam Canada thhiện trong các quy định pháp luật của mình. Mục đích chính của việc đưa chế định phòng vchính đáng vào pháp luật hình sự miễn hoặc giảm trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi đó. Nếu pháp luật Việt Nam, phòng vệ chính đáng được quy định ràng không phải tội phạmthì pháp luật Canada, phòng vệ chính đáng được cho một hành vi không phạm tội. Hai khái niệm không phải tội phạmkhông phạm tộihậu quả pháp nội hàm tương đồng nhau

Thứ hai, xét về tổng thể, các căn cứ xác định hành vi phòng vệ chính đáng ca hai quốc gia Việt Nam và Canada giống nhau. Đối với Việt Nam, các căn cứ xác định hành vi phòng vệ chính đáng bao gồm: (1) hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, (2) hành vi vi phạm pháp luật đang gây hậu quả hoặc đe doạ gây hậu quả thiệt hại cho bản thân, Nhà nước, hội hoặc cho người khác (3) hành vi chống trả hành vi cần thiết. Đối với Canada, các căn cứ này bao gồm (1) hành vi tấn công người, phá hoại tài sản/ hành vi phạm tội, (2) hành vi đó gây thiệt hi, đe dogây thiệt hại tức khắc, đe doạ gây thiệt hại (nếu sở hợp ) cho bản thân người phòng vệ, cho người khác, cho công cộng (3) hành vi chống trả hành vị hợp trong hoàn cảnh. thể thấy, về bản tổng thể pháp luật Việt Nam pháp luật Canada quy định những căn cứ xác minh hành vi phòng vệ chính đáng giống nhau. Tất nhiên, khi xét từng điều kiện cụ thể sẽ một số điểm khác nhau, nhưng về tổng thể giống nhau. Đây những điều kiện cần thiết của bất cứ hành vi phòng vệ chính đáng nào, những thành tố bản nhất để cấu thành một hành vi phòng vệ chính đáng

2. Một số điểm khác biệt giữa các quy định về phòng vệ chính đáng của Pháp luật hình sự Việt Nam và Pháp luật hình sự Canada: 

Mặc những điểm bản giống nhau, nhưng giữa pháp luật hình sự Việt Nam Canada còn rất nhiều điểm khác nhau chế định phòng vệ chính đáng. Những điểm khác nhau này xuất phát từ thực tế tình hình kinh tế hội khác nhau giữa hai quốc gia, về thể chế chính trị, về quan điểm pháp luật,... Việc xác định những khác biệt này thể rút ra những điểm hợp lý để thể đề xuất hoàn thiện hơn cho pháp luật nh sViệt Nam về chế định phòng vệ chính đáng

Thứ nhất, sự khác biệt về phòng vệ chính đáng giữa hai quốc gia căn cứ áp dụng trong quá trình tố tụng hình sự. Canada, các thẩm phán khi xác định một nh vi png vệ chính đáng, trước hết sẽ dựa vào các quy định của BLHS Canada năm 2013, sau đó các án lệ đã được ban hành để đưa ra quyết định. Đây đặc trưng của hthống pháp luật án lcủa Canada, khác hoàn toàn so với nguyên tắc áp dụng pháp luật của Việt Nam. Việt Nam một quốc gia theo hệ thống pháp luật Civil Law, hệ thống pháp lut áp dụng các quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật được ban hành bởi các quan lập pháp. Do đó, khi xét xử một vviệc hay chứng minh một hành vi phòng vệ chính đáng, các thẩm phán Việt Nam luôn dựa vào các quy định của pháp luật, cthể các quy định trong BLHS 2015, các quy định trong Nghị quyết số 02/HĐTPTANDTC/các văn bản pháp luật liên quan. Pháp luật hình sự Việt Nam thừa nhận rất ít án lệ sở để giải quyết vụ án hình sự, cụ thể mới 4 án lệ nh sđược đưa vào áp dụng

Skhác nhau này xuất phát từ khác biệt của hệ thống pháp luật giữa hai quốc gia, cũng như lịch sử lập pháp của hai quốc gia. Mỗi hthống pháp lut lại có những ưu điểm nhược điểm riêng. Ưu điểm của việc xét xử theo quy định quy phạm pháp luật Việt Nam là đảm bảo được tính công bằng, minh bạch, đảm bảo sự thống nhất về áp dụng pháp luật giữa các thẩm phán. Đồng thời, việc ít sử dụng án lệ cũng giảm tải cho hệ thống pháp luật của Việt Nam. Bên cạnh đó, nhược điểm của hình thức này việc áp dụng pháp luật sẽ xu hướng máy móc, thiếu tính linh hoạt trong hoạt động xét xử. Ngược lại, Canada sẽ được sự linh hoạt khi xét xử, đồng thời những trường hợp cụ thể sẽ dễ xét xử hơn nếu đã án lệ tương tự. Tuy nhiên, để xây dựng được hệ thống pháp luật án lệ sẽ cần rất nhiều thời gian, những án lệ phải được cân nhắc và biên soạn ràng, khiến cho khối lượng văn bản áp dụng sẽ nhiều hơn. Đồng thời, sẽ những án lệ mâu thuẫn với văn bản pháp luật, khi đó việc áp dụng sẽ bị ảnh hưởng không thng nhất

Thứ hai, c căn cứ xác định hành vi phòng vệ chính đáng theo pháp luật hình sự Việt Nam pháp luật hình sự Canada khi đi sâu phân ch khá nhiều điểm khác nhau

Theo pháp luật Canada, mục đích của phòng vệ chính đáng bao gồm ba mục đích, đó (1) bảo vệ về sức khoẻ, nh mạng con người; (2) bảo vệ i sn (3) trợ giúp bắt giữ người phạm tội. Trong khi đó, theo pháp luật hình sự Việt Nam, phòng vệ chính đáng mục đích bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân, của người khác, của nhà nước của quan, tổ chức. Thực tế khái niệm quyền lợi hợp phápbao gồm sức khoẻ, tính mạng con người tài sản, tức chỉ bao gồm hai mục đích giống với pháp luật Canada. Việc trợ giúp bắt giữ người phạm tội theo pháp luật Việt Nam không phải hành vi phòng vệ chính đáng, hành vi được quy định tại Điều 24: Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội [47]. Do đó, hành vi giúp đỡ cơ quan chức năng bắt giữ người phạm tội gây thiệt hại sẽ không được coi phòng vệ chính đáng theo pháp luật Việt nam. Thực tế, tác giả nhận thấy hành vi bắt giữ người phạm tội mặc dấu hiệu khá giống với phòng vệ chính đáng, nhưng không n coi đó một trường hợp phòng vệ chính đáng

Bản chất nội dung của hành vi này theo pháp luật Canada tương tự với hành vi phòng vchính đáng bảo vệ lợi ích công cộng, chỉ một phần nhỏ là nh vi giúp sức, làm theo lệnh ca người thẩm quyền

Pháp luật Canada yêu cầu hành vi trái pháp luật dẫn tới hành vi phòng vệ chính đáng hành vi đang gây thiệt hại, đe doy thiệt hại tức khắc hoặc các hành vi đe doạ sẽ lực xảy ra không phải ngay tức khắc. Đối với pháp luật Việt Nam, hành vi vi phạm pháp lut chỉ hành vi đang gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại ngay tức khắc. thể thấy quy định sở cho hành vi phòng vệ chính đáng hành vi phạm tội gây thiệt hại ngay tức khắc do tâm của người phòng vệ. Khi họ chắc chắn rng sẽ hành vi gây thiệt hại cho mình, hoặc cho người khác thì họ quyền tự vệ trước hành vi đó. Tuy nhiên, hiện nay nhiều trường hợp không cần phải là hành vi đe doạ gây thiệt hại ngay tức khắc nhưng người phòng vệ vẫn thể chắc chắn sẽ hành vi gây thiệt hại xảy ra. dụ, trường hợp bị bạo hành gia đình trong thời gian dài. Người phụ nữ bị chồng bạo nh liên tục trong thời gian dài, thường xuyên ngay sau khi ông ta uống rượu. Do đó, sau một khoảng thời gian chịu đựng, ta đã chống trả lại người chồng khi ông này vừa uống rượu xong đang đi về phía , mặc ông ta chưa động thái sẽ tấn công người vợ. Tác giả nhận thấy đây một quy định hợp , bởi người phòng vệ trong trường hợp này đã rất sợ hãi, tâm của họ bị tác động mạnh hành vi chống trả của họ nhằm bảo vệ một lợi ích hợp pháp

Luật hình sự Canada phân tích các căn cứ để xác định một hành vi phòng vệ hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động áp dụng pháp luật. Trong khi đó, pháp luật hình sViệt Nam không quy định cụ thể cho điều này. Pháp luật hình sự Việt Nam một văn bản nhắc tới vấn đề này Nghị quyết số 02/HĐTPTANDTC/này 05/01/1986 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS. Tuy nhiên, những quy định trong văn bản này chưa ràng đã được ban nh từ năm 1986, nhiều quy định không n thích hợp với tình hình hội, pháp luật hiện tại. thể thấy, pháp luật hình sự Canada sau nhiều m thực hiện đã đúc kết được những sở bản nhất để xác định một hành vi phòng vệ hợp , việc quy định trực tiếp vào luật sẽ ảnh hưởng tốt hơn so với việc hướng dẫn các văn bn khác

Thứ ba, pháp luật hình sự Canada quy định về vai trò của người phòng vệ trong việc diễn ra hành vi trái pháp luật của người xâm hại. Điều này chưa được quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam. Việc xác định vai trò của người phòng vệ trong việc xảy ra hành vi trái pháp luật rất cần thiết, trước hết nhm hiểu rõ hành vị thực tế, sau căn cứ để xét xử công bằng. Người phòng vệ được bảo vệ bởi pháp luật, nhưng ktấn công cũng cần được bảo v. Do đó, pháp luật hình sự Canada những quy định như vậy nhằm hạn chế li hành vi lợi dụng chế định phòng vệ chính đáng để gây thương tích cho người khác không phải chịu hình phạt. Pháp luật Việt Nam kng đề cập đến vấn đề này, do đó nhiều trường hợp, người phòng vệ đã cố tình khiêu khích, chế giễu hoặc hành vi xâm hại (mức nhẹ) trước đối với người nh vi vi phạm để sở chống trả gây thiệt hại cho người hành vi xâm hại. Việc này chưa công bằng đối với người hành vi xâm hại, bởi họ cũng nạn nhân của một hành vi khiêu khích mới thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

Thứ , pháp luật hình sự Canada quy đnh cụ thể những hành vi xâm phm đến quyền tài sản của chủ sở hữu tài sản hoc người được giao quản tài sản, đó các hành vi sắp vào, đang vào hoặc đã vào tài sản pháp luật không cho phép làm như vậy; sắp chiếm, đang chiếm hoặc vừa mới chiếm lấy tài sản; sắp hoặc đang làm hỏng, phá hủy tài sản, hoặc làm cho tài sản không hoạt động.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo