Quyết định hình phạt tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 

Quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là hoạt động nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự, do Tòa án lựa chọn áp dụng biện pháp TNHS cụ thể đối với người phạm tội trên cơ sở các căn cứ do BLHS quy định nhằm đạt được các mục đích của hình phạt.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Hình phạt là gì:

Khái niệm hình phạt lần đầu tiên được định nghĩa dưới góc độ lập pháp hình sự quy định tại Điều 26 BLHS năm 1999; Hình phạt biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự do Tòa án quyết định áp dụng. Sau 03 lần pháp điển hóa thì tại Điều 30 BLHS năm 2015 về khái niệm hình phạt đã bổ sung thêm chủ thể của tội phạm pháp nhân thương mại

Tiếp cận dưới góc độ pháp thể hiểu khi một người (hoặc pháp nhân thương mại) thực hiện hành vi BLHS quy định tội phạm thì họ phải chịu TNHS (nếu không thuộc những trường hợp loại trừ TNHS). Khi trách nhiệm hình sự rồi, mới đặt ra việc áp dụng hình phạt hay không. Như vậy, thể hiểu hình phạt chính một hình thức thực hiện TNHS mang tính phổ biến nhất chỉ được áp dụng đối với người, pháp nhân thương mại nào đã thực hiện tội phạm phải chịu TNHS trên sở chung

Tiếp cận dưới góc độ luận chung về pháp luật, hình phạt một trong những yếu tố cấu thành của quy phạm pháp luật hình sự bao gồm: phần giả định, quy định hình phạt. Trong đó, hình phạt chính biện pháp tác động Nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể nào không thực hiện đúng mệnh lệnh, yêu cầu của Nhà nước đã nêu phần quy định của quy phạm pháp luật hình sự

Luật hình sự Việt Nam đưa ra một hệ thống hình phạt được hình thành từ hình phạt chính hình phạt bổ sung. Hình phạt chính bao gồm: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, thời hạn, chung thân, tử hình. Hình phạt bổ sung bao gồm: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền trục xuất (khi không áp dụng hình phạt chính). Mục đích của hình phạt được quy định cụ thể tại Điều 31 BLHS đó hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

Như vậy, khái niệm hình phạt thể được định nghĩa như sau

Hình phạt biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, do Tòa án quyết định trong bản án có hiệu lực pháp luật đối với người hoặc pháp nhân thương mại bị kết án với nội dung tước bỏ hay hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó, qua đó nhằm giáo dục, cải tạo phòng ngừa tội phạm .

2. Quyết định hình phạt là gì: 

Để hình phạt được đưa vào thực tiễn thi hành thì cần hoạt động xét xử của Tòa án Quyết định hình phạt một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét xử. Bởi tòa án quan duy nhất được Nhà nước trao quyền, nhân danh Nhà nước tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật hình sự (bao gồm cả phần chung phần các tội phạm). Theo đó, Tòa án căn cứ vào các yếu tố đã được quy định trong BLHS để ra quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Những nội dung của hoạt động Quyết định hình phạt thể miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc quyết định áp dụng hình phạt. Trường hợp Tòa án quyết định áp dụng hình phạt thì hoạt động Quyết định hình phạt bao gồm: xác định loại hình phạt, khung hình phạt mức hình phạt cụ thể (hình phạt chính thể cả hình phạt bổ sung) hoặc các biện pháp cưỡng chế hình sự khác biện pháp pháp), hoặc áp dụng biện pháp chấp hành hình phạt (án treo)

Mặc một khái niệm quan trọng nhưng tới nay, pháp luật hình sự Việt Nam vẫn chưa một văn bản chính thức để định nghĩa cụ thể về khái niệm Quyết định hình phạt. Trong khoa học luật hình sự đã nhiều nhà nghiên cứu về luật hình sự đưa ra các khái niệm khác nhau về vấn đề này, dụ như: PGS.TS. Dương Tuyết Miên đã đưa ra định nghĩa khoa học về Quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt hoạt động thực tiễn của Tòa án (Hội đồng xét xử) được thực hiện sau khi đã xác định được tội danh để xác định biện pháp xử tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi nhân/pháp nhân thương mại đã thực hiện; hoạt động quyết định hình phạt thể miễn hình phạt hoặc nếu Tòa án quyết định áp dụng hình phạt thì quyết định hình phạt việc xác định hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định đối với nhân/pháp nhân thương mại phạm tội . ThS. Đinh Văn Quế đưa ra định nghĩa về Quyết định hình phạt như sau

Quyết định hình phạt việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành. Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào, mức hình phạt bao nhiêu, phải tuân theo những quy định của Bộ luật hình sự

thể thấy, Quyết định hình phạt chỉ được đặt ra với những trường hợp người (pháp nhân thương mại) phạm tội phải chịu TNHS bị áp dụng hình phạt. Trong luật hình sự Việt Nam đa số hình phạt chính áp dụng cho các loại tội phạm chế tài lựa chọn. Trong khung hình phạt quy định nhiều loại hình phạt khác nhau thì Quyết định hình phạt sự lựa chọn một hình phạt cụ thể trong phạm vi pháp luật cho phép để áp dụng đối với người phạm tội. Quyết định hình phạt bổ sung việc lựa chọn một hay nhiều hình phạt bổ sung mà pháp luật cho phép để áp dụng bổ sung cho hình phạt chính. Tuy nhiên, nội dung quan trọng trong Quyết định hình phạt của Tòa án vẫn hình phạt chính

Như vậy, từ góc độ khoa học luật hình sự trên sở nghiên cứu các định nghĩa khoa học pháp , tác giả quan điểm về Quyết định hình phạt như sau: Quyết định hình phạthoạt động nhận thức áp dụng pháp luật hình sự, do Tòa án (Hội đồng xét xử) nhân danh Nhà nước lựa chọn áp dụng biện pháp TNHS cụ thể đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội trên sở các căn cứ do luật hình sự quy định nhằm đạt được các mục đích của hình phạt

3. Khái niệm quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt: 

Các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt những tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt, do vậy trong cấu thành tội phạm của những tội này dấu hiệu chiếm đoạt. Dấu hiệu chiếm đoạt nghĩa hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản của chủ tài sản thành tài sản của mình

Quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt chỉ được đặt ra trong trường hợp người phạm tội phải chịu TNHS bị áp dụng hình phạt. Trong BLHS hình phạt chính áp dụng cho các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt chế tài lựa chọn. Nghĩa trong khung hình phạt quy định nhiều loại hình phạt khác nhau thì Quyết định hình phạt sự lựa chọn một hình phạt cụ thể trong các hình phạt đó xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi cho phép để áp dụng đối với người phạm tội. Quyết định hình phạt bổ sung việc lựa chọn một hoặc nhiều loại hình phạt bổ sung (nếu luật quy định thể áp dụng nhiều loại hình phạt bổ sung) xác định mức hình phạt trong phạm vi cho phép để áp dụng kèm theo hình phạt chính nhằm hỗ trợ cho hình phạt chính. dụ: Tội cướp tài sản quy định tại Điều 168 của BLHS 04 khung hình phạt chính, 01 khung hình phạt bổ sung 01 khung hình phạt cho chuẩn bị phạm tội. Khung hình phạt bản mức phạt từ 03 năm đến 10 năm. Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất mức hình phạt từ 07 năm đến 15 năm. Khung hình phạt tăng nặng thứ hai mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm. Khung hình phạt tăng nặng thứ ba mức hình phạt từ 18 năm đến 20 năm hoặc chung thân. Khung hình phạt cho chuẩn bị phạm tội được quy định có mức phạt từ 01 năm đến 05 năm. Khung hình phạt bổ sung được quy định thể được áp dụng : Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt quản chế, cấm trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Như vậy trong trường hợp này Quyết định hình phạt hoạt động của Tòa án lựa chọn loại hình phạt mức hình phạt cụ thể bao gồm hình phạt chính hình phạt bổ sung, trong phạm vi quy định tại Điều 168 của BLHS để áp dụng đối với người phạm tội cướp tài sản

Từ phân tích trên chúng ta thể thấy giữa hình phạt Quyết định hình phạt luôn tồn tại mối quan hệ khăng khít. Người phạm các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt chỉ phải chịu biện pháp trừng trị nghiêm khắc nhất của nhà nước bằng các hình phạt chính hình phạt bổ sung khi Tòa án Quyết định hình phạt đối với họ. Tòa án nhân dân quan duy nhất được Nhà nước trao quyền, nhân danh Nhà nước tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật hình sự (bao gồm cả phần chung phần các tội phạm), theo đó, Tòa án lựa chọn hình phạt cụ thể tương ứng với hành vi phạm tội để đưa ra quyết định cuối cùng áp dụng mức hình phạt loại hình phạt dành cho người phạm tội. Đây chính hoạt động Quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt của Tòa án

Qua việc nghiên cứu các quan điểm khác nhau về định nghĩa khoa học của Quyết định hình phạt, mối quan hệ giữa hình phạt quyết định hình phạt, đặc điểm của việc Quyết định hình phạt. Tác giả quan điểm về việc Quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt như sau

Quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt hoạt động nhận thức áp dụng pháp luật hình sự, do Tòa án (Hội đồng xét x) nhân danh Nhà nước lựa chọn áp dụng biện pháp TNHS cụ thể đối với người phạm tội quy định từ các Điều 168 đến Điều 176 của BLHS năm 2015 trên sở các căn cứ do BLHS quy định nhằm đạt được các mục đích của hình phạt

Trên sở định nghĩa về Quyết định hình phạt, thể rút ra một số đặc điểm bản của hoạt động Quyết định hình phạt như sau

Thứ nhất, tính đặc thù thể hiện chủ thể áp dụng Toà án. Quyết định hình phạt một hoạt động áp dụng pháp luật của toà án sau khi Toà án đã định tội danh. Điều 128 Hiến pháp hiện hành quy định Toà án là quan xét xử duy nhất nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, tức chỉ Toà án mới quyền tuyên một người tội áp dụng hình phạt với người đó. Quyết định hình phạt hoạt động duy của Tòa án (các thành viên Hội đồng xét xử) cân nhắc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các yếu tố khác để lựa chọn một hình phạt cụ thể xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi cho phép, nhằm đưa ra một quyết định hình phạt phù hợp đối với nhân hành vi phạm các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt, thể hiện sự lên án của nhà nước đối với người phạm tội

Thứ hai, Quyết định hình phạt được thực hiện trên sở của luật hình sự. Để nhận thức áp dụng một cách thống nhất, chính xác, hiệu quả, căn cứ Quyết định hình phạt bắt buộc phải được quy định trong BLHS trở thành chuẩn mực chung cho việc Quyết định hình phạt đối với mọi trường hợp phạm tội. Đây một yêu cầu quan trọng nhằm tránh tình trạng áp dụng một cách tuỳ tiện nhằm đảm bảo giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS của người phạm tội

Thứ ba, căn cứ Quyết định hình phạt tính bắt buộc Hội đồng xét xử phải tuân thủ để hình phạt được quyết định một cách đúng đắn. Trong mối quan hệ với Quyết định hình phạt, căn cứ Quyết định hình phạt chính điều kiện tồn tại, sở pháp đảm bảo tính có căn cứ đúng pháp luật của hoạt động quyết định hình phạt. vậy, khi Quyết định hình phạt, bắt buộc Hội đồng xét xử phải tuân thủ triệt để các căn cứ đã được BLHS quy định nhằm đảm bảo cho hình phạt được quyết định một cách công bằng, đúng pháp luật, phù hợp với đòi hỏi lợi ích chung của hội

Thứ , quyết định hình phạt đúng sở để đạt được các mục đích của hình phạt. Quyết định hình phạt đảm bảo tính công minh, đúng pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội điều kiện bắt buộc để hình phạt được tuyên đạt được mục đích trừng trị giáo dục, cải tạo người phạm tội. Qua đó, hình phạt cũng phát huy tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung đối với các thành viên khác trong hội.

4. Phân biệt giữa quyết định hình phạt các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt với quyết định hình phạt các tội xâm phạm sở hữu khác có liên quan: 

Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại chương XVI của BLHS, gồm 13 tội được quy định từ Điều 168 đến Điều 180. Căn cứ vào tính chất của mục đích phạm tội, khoa học luật hình sự chia các tội xâm phạm sở hữu thành nhóm như sau

Các tội xâm phạm sở hữu thể được phân thành 2 nhóm nhóm các tội xâm phạm sở hữu mục đích lợi (10 tội, được quy định tại các điều từ Điều 168 đến Điều 177) nhóm các tội xâm phạm sở hữu không mục đích lợi (3 tội, được quy định tại các điều từ 178 đến Điều 180). Nhóm các tội xâm phạm sở hữu mục đích lợi gồm 8 tội tính chất chiếm đoạt 2 tội không tính chiếm đoạt

Như vậy, nhóm các tội tính chất chiếm đoạt bao gồm từ Điều 168 đến Điều 175 (Tội cướp tài sản; Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; Tội cưỡng đoạt tài sản; Tội cướp giật tài sản; Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản; Tội trộm cắp tài sản; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

Về bản điểm phân biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt với các tội xâm phạm sở hữu khác chính tính chiếm đoạt. Chiếm đoạt việc cố ý dịch chuyển trái pháp luật tài sản đang được sự quản của chủ sở hữu thành tài sản của mình, chúng được biểu hiện dưới dạng hành vi hoặc mục đích phạm tội. Do vậy, cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt bắt buộc phải dấu hiệu chiếm đoạt tài sản; hình phạt đối với nhóm tội này chỉ hình phạt hoặc hình phạt cải tạo không giam giữ. Còn cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm sở hữu khác thì không tính chất chiếm đoạt tài sản chỉ sử dụng tài sản trái phép trong một thời gian nhất định hoặc xâm phạm sở hữu do ngẫu nhiên hoặc hủy hoại, làm hỏng tài sản đó; hình phạt đối với những tội này không chỉ hình phạt , hình phạt cải tạo không giam giữ còn hình phạt tiền hoặc phạt cảnh cáo.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo