Quyền công tố là gì? Thực hành quyền công tố là gì?

Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thực hiện việc buộc tội người đó trước Tòa án.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Quyền công tố là gì?

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì Viện kiểm sát hai chức năng đó thực hành quyền công tố kiểm t hoạt động pháp. Đây chức năng hiến định của Viện kiểm sát . Mặc vậy, cho đến nay, trong khoa học pháp nói chung, trong thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao vcác vấn đề này cả trên phương diện khái niệm, nội dung, đối tượng phạm vi của thực hành quyền công tố kiểm sát hoạt động pháp cũng như mối quan hệ giữa chúng. Để từng bước nâng cao hiệu quả và dần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác kiểm t, điều không thể thiếu được cần phải làm từ trong nhận thức về các vấn đề bản liên quan đến các hoạt động chức năng này: Khái niệm thế nào thực hành quyền công tố, thế nào kiểm sát hoạt động pháp, đối tượng, nội dung, phạm vi ng như mối quan hệ giữa chúng

Để hiểu về thực hành quyền công tố, trước hết cần tìm hiểu về quyền công tố khái niệm, nội dung, phạm vi đối tượng cả trên phương diện luận thực tiễn Việt Nam

Từ điển Luật học định nghĩa về quyền công tố như sau: Quyn công tố quyền buộc tội nhân danh Nhà nước đối với người phạm tội

Theo nghĩa hẹp, nội dung của quyền công tố chỉ được thể hiện trong phạm vi (giới hạn) từ sau khi kết thúc hoạt động điều tra tội phạm vụ án được chuyển sang Viện kiểm sát để truy tố người đã thực hiện hành vi phạm tội trước Tòa án chấm dứt sau khi Tòa án xét xử, tuyên một bản án (quyết định hiệu lực pháp luật đối với người đó, tức trong giai đoạn của hoạt động tư pháp hình struy tố bị can ra Tòa buộc tội bị cáo của Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử của Tòa án

Theo nghĩa rộng, nội dung của quyền công tố được thể hiện trong phạm vi (giới hạn) từ khi bắt đầu hoạt động điều tra tội phạm, tiếp đó là vụ án hình sđược chuyển sang Viện kiểm sát để truy tố người đã thực hiện hành vi phạm tội trước Tòa án và chấm dứt khi Tòa án xét xử, tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật đối với người đó, tức trong ba giai đoạn của hoạt động pháp hình sự điều tra tội phạm, truy tố bị can bị xét xử bởi Tòa án

Để xác định đúng đắn khái niệm quyền công tố cn phải xuất phát từ những sở tính nguyên tc sau đây

Một là, quyền công tố quyền của Nnước, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nnước thay đổi theo bản chất của Nhà nước. Với tính chất một quyền lực công, được bắt nguồn từ nhu cầu phải duy trì trật tự hội để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị những lợi ích chung liên quan bất kỳ nhà nước nào cũng đều cn phải can thiệp duy trì đó môi trường tồn tại của Nnước, trách nhiệm hội của Nhà nước chứ không phải trách nhiệm của nhân hay một nhóm người, bởi Nhà nước nói chung dường như người nhân danh hội duy trì hội trong vòng trật tự

Hai , quyền công tố quyền lực công nghĩa khi vụ việc xâm phạm lợi ích chung thì phải được phát hiện đưa ra xử một cách công khai bằng con đường Tòa án. Đây cũng điểm chung bản giữa các quan điểm khác nhau về quyền công tố quyền đưa vụ án ra tòa buộc tộingười phạm pháp tại Tòa án. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng không nghĩa cứ phải đưa vụ án ra Tòa mới thực hành quyền công tố , cũng như các quyền năng tố tụng khác, được thể hiện các giai đoạn khác việc thực hiện quyền đó. Các quyền năng ấy, trong đó quyền công tthể bị triệt tiêu bất cứ lúc nào khi sự việc là đối tượng tác động của quyền công tố đủ căn cứ để quan tố tụng ra những quyết định ttụng. Nvy để làm phạm vi của quyền công tố không thể không xem xét đến các căn cứ làm triệt tiêu quyền công tố

Ba , quyền công tố theo bản chất của mình quyền yêu cầu trừng trị công khai những hành vi vi phm pháp luật liên quan đến lợi ích chung, do đó quyền công tố chỉ có thể do một quan thực hiện được gọi quan công tố (nước ta Viện kiểm sát ). Đây một trong những yếu tố quan trọng cần thiết để phân biệt quyền công tố với các thẩm quyền tố tụng khác của quan công tố, của các cơ quan tiến hành tố tụng khác với quan điều tra, Tòa án, hoặc với quyền khởi kiện, quyền yêu cầu khởi tố của đương sự

Từ những phân tích trên, khái niệm quyền công tố được hiểu như sau

Quyền công tố quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thực hiện việc buộc tội người đó trước Tòa án

2. Đặc điểm của quyền công tố: 

Thứ nhất, C.Mác đã khẳng định: Quyền công tố thể hiện rõ mối quan hệ giữa Nhà ớc với người phạm tội mối quan hệ y do chính hành vi phạm tội làm phát sinh ra..., theo quan niệm này thì quyền công tố khái niệm pháp xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước pháp luật. Quyền công tố bảo đảm cho Nhà nước khả năng xử tội phạm một hiện tượng hội xuất hiện, tồn tại khách quan trong hội Nhà nước. Khi Nhà nước xuất hiện, ngoài nhu cầu bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, để duy trì sự xung đột hội trong vòng trật tự do Nhà nước thiết lập, Nhà nước đã giành lấy quyền trừng trị những hành vi xâm hại lợi ích chung từ tay nhân (sự thay thế quyền tố bằng quyền công tố). vậyquyền lực Nhà nước cũng được hiểu là quyền lực công cộng, theo đó quyền công tố với tính chất công quyền hoàn toàn không thể tách rời sự ra đời của Nhà nước

Thứ hai, quyền công tố được thực hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự , bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra cho đến khi có phán quyết của Tòa án đã hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. GS.TSKH Văn Cảm đã khẳng định ti công trình Những vn đề luận về chế định quyền công tốnhư sau

Chỉ khi nào và đâu việc thực hiện tội phạm, thì khi ấy đó mới thể nói đến sự buộc tội nhân danh Nhà nước chức năng quan trọng nhất của quyền công tố; quyền công tố mang tính cụ thể, tức chỉ xuất hiện trong trường hợp tội phạm cụ thể đã được thực hiện đối với những người phạm tội cụ thể, không tn tại quyền công tố chung chung

Quyền công tố cũng thể kết thúc trước khi mở phiên tòa khi đủ căn cứ để giải quyết vấn đề TNHS đi với người bị tình nghi phạm tội (Theo quy định của BLtố tụng hình sự m 2015 thì quyền công tố thể bị triệt tiêu trong giai đoạn điều tra, truy tố, giai đoạn chuẩn bị xét xử nếu đủ căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đối với bị can hoặc trước khi mở phiên tòa, VKS căn cứ rút toàn bộ quyết định truy tố đối với bị can theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự . 

Thứ ba, quyền công tố được giao cho CQCT để thực hiện truy tố người phạm tội ra xét xử trước Toà án đồng thời bảo vệ sbuộc tội đó nên quyền công tố gắn liền với quyền tài phán của Tòa án. Trong khoa học pháp tố tụng hình sự hiện nay, nhiều quan điểm khác nhau vkhái niệm quyền công tố nhưng các quan điểm này đều thống nhất khẳng định một trong những nội dung của quyền công tố quyền truy tố người phạm tội ra trước Toà án và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà. thể nói, quyền công tố bước khởi đầu cho quyền tài phán bởi Toà án chỉ thể xét xử người phạm tội khi CQCT đại diện cho Nhà nước truy tố người phạm tội ra trước Toà án

Thứ , quyền công tố tồn tại độc lập đối với quyền tài phán của Toà án CQCT độc lập với quan điều tra. Quyền công tố theo bản chất của mình quyền yêu cầu trừng trị công khai những hành vi phạm tội, do đó để đảm bảo tính khách quan sự công bằng thì quyền này phải độc lập với quyền tài phán của Toà án. Cùng với sự phát triển của Nhà nước, quyền công tố dần hình thành một chế định pháp độc lập trong tố tụng hình sự . Về mặt nguyên tắc, quyền công tố chỉ thể do một quan thực hiện (CQCT), độc lập với Toà án, cơ quan điều tra . 

3. Thực hành quyền công tố là gì?

Nđã phân tích trên, quyền công tố là quyền lực công của Nhà nước, gn liền bản chất Nhà nước. Để đảm bảo thực hiện việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội, Nhà nước thể chế những quyền năng pháp thuộc nội dung quyền công tố vào luật tố tụng hình sự giao cho CQCT thực hiện các quyền năng đó để phát hiện thực hiện truy cứu TNHS đối với người phạm tội

CQCT thực hành quyền công tố phải một quan nhà nước một quan độc lập với cơ quan điều tra và Toà án. Trong nghiên cứu của mình về quyền công tố, C.Mác khẳng định: Strừng phạt quyền của Nhà c, không thể chuyển giao cho nhân. Quyền công tố quyền lực công thuộc về Nhà nước nên thực hành quyền công tố phải do quan Nhà nước được giao tiến hành các hot động pháp quy định trong luật tố tụng hình sự đthực hiện chức năng buộc tội. Để đảm bảo tính khách quan, công bằng trong quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự thì CQCT phải một quan Nhà nước độc lập. cơ quan điều tra , quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra cũng tham gia vào quá trình buộc tội như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành c hoạt động điều tra nhưng cơ quan điều tra không phải CQCT đóng vai trò một thiết chế quan trọng hỗ trợ CQCT thu thập chứng cứ xác định tội phạm, người phạm tội. Chỉ quan thẩm quyền đầy đủ độc lập thay mặt Nhà nước truy tố người phạm tội ra Toà án để xét xử thực hiện việc buộc tội của Nhà nước tại phiên toà mới chủ thể thực hành quyền công tố

Quyền công tố nội dung sự buộc tội của Nhà nước đối với người phạm ti nên nội dung của thực hành quyền công tố việc CQCT sử dụng những quyền năng được quy định trong tố tụng hình sự để truy cứu TNHS đối với người phạm tội. thực hành quyền công tố bắt đầu kể từ tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự kết thúc khi bản án, quyết định hiệu lực pháp luật của Tòa án không bị kháng nghị

CQCT của nước ta hệ thống quan Viện kiểm sát. Ngay từ khi thành lập vào ngày 26 tháng 7 năm 1960, VKS đã được Nhà nước giao cho thực hiện chức năng công tố truy ttrước Toà án nhân dân những người phạm pháp hình s, bên cạnh chức năng chủ yếu khi đó kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo tính thống nhất của pháp chế trật tự pháp luật hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng hình sự của nước ta thời điểm trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự m 2015 quy định phạm vi của thực hành quyền công tố chỉ giới hạn bắt đầu kể từ khi VKS thực hiện kiểm sát việc khởi tố, tự mình khởi tố vụ án hình sự chuyển đến quan điều tra để yêu cầu tiến hành điều tra, trực tiếp điều tra hay quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can; yêu cầu quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can. Việc quy định phạm vi thực hành quyền công tố chỉ bắt đầu kể từ giai đoạn điều tra đã giới hạn phạm vi thực hành quyền công tố hẹp hơn phạm vi của quyền công tố dẫn đến câu hỏi đặt ra quan sẽ tiến hành hoạt động công tố trước khi tội phạm bị khởi tố. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã trả lời câu hỏi đó bằng cách quy định bsung hoạt động pháp tố tụng hình sự của VKS trong giai đoạn tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm tại điểm a, b khoản 2 Điều 41 ca Bộ luật

Yêu cầu quan điều tra, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phm, khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố ván, khởi tố bị can; – Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can; quyết định nhập, tách vụ án

Từ đó mở rộng phạm vi của thực hành quyền công tố bằng với phạm vi của quyền công tố, đồng thời, đánh giá đúng bản chất, phạm vi hoạt động pháp tố tụng hình sự của VKS trong việc truy cứu TNHS đối với người phạm tội. 

Từ những phân tích trên thể đưa ra khái niệm thực hành quyền công tố như sau: Thực hành quyền ng tố việc sử dng quyền năng pháp trong tố tụng hình scủa quan công tố (tại Việt Nam Viện kiểm sát nhân dân) để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm ti ra xét xử trước tòa án đồng thời bo vệ sự buộc tội đó

Trong giới hạn của luận văn, học viên trình bày nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, nghĩa đi tìm hiểu việc VKS sử dụng quyền năng pháp trong tố tụng hình sự thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội kể từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm đến khi quan điều tra kết thúc điều tra vụ án hình sự. Nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra bao gồm các hoạt động: khởi tố, thay đổi, hủy bỏ hoặc phê chuẩn khởi tố vụ án, khởi tố bị can; áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế; yêu cầu xác minh, điều tra; hủy bỏ các quyết định tố tụng không căn cứ trái pháp luật của cơ quan điều tra ; quyết định việc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án... 

Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành không quy định thủ tục tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm kiến nghị khởi tố vào Chương X của Bộ luật về Những quy định chung về điều tra vụ án hình sự, đồng thời Điều 172 của Bộ luật cũng quy định thời hạn điều tra vụ án hình sự bắt đầu kể từ khi khởi tván cho đến khi kết thúc điều tra, nhưng học viên nhận định quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm kiến nghị khởi tố thuộc giai đoạn điều tra bởi lẽ, khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm kiến nghị khởi tố, cơ quan điều tra tiến hành c hoạt động nghiệp vụ nhằm xác định hay không hành vi phạm tội để từ đó căn cứ khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra thu thập trong giai đoạn y (Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, Kết luận giám định, định g...) rất quan trọng để chứng minh tội phạm, tiền đề, sở để cơ quan điều tra tiến hành thu thập thêm tài liệu, chứng cứ để củng cố hồ , mở rộng điều tra. Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân cũng tiến hành một số hoạt động tương tự trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, như: phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ, áp dụng, thay thế biện pháp ngăn chặn, yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc khởi tố vụ án hình sự ....

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo