Người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng. Vậy mức phạt tù cao nhất đối với người dưới 16 tuổi hiện nay được quy định như thế nào?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.
Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: luatsu@luatduonggia.vn
1. Quy định mức phạt tù cao nhất đối với người dưới 16 tuổi:
Theo quy định của pháp luật hiện nay, người chưa thành niên khi đắp ứng độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự căn cứ theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với người chưa thành niên phạm tội. Nhìn chung, nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội như sau:
– Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội cần phải đề cao yếu tố giáo dục, giúp đỡ những đối tượng đó sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích hơn cho xã hội;
– Người chưa thành niên phạm tội có thể sẽ được xem xét để miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, gây hại không lớn cho xã hội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, được gia đình và tổ chức nhận giám sát, giáo dục chặt chẽ trên thực tế;
– Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội sẽ chỉ thực hiện trong trường hợp cần thiết, căn cứ vào tính chất hành vi của tội phạm phải căn cứ vào đặc điểm nhân thân để có thể đưa ra mức hình phạt phù hợp;
– Trong quá trình xét xử, nếu nhận thấy không cần thiết cần phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó là tòa án có thể áp dụng một trong các biện pháp tư pháp đó là giáo dục tại xã phường hoặc đưa vào các trường giáo dưỡng;
– Tuyệt đối không xử phạt tù chung thân hoặc hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội;
– Khi xử phạt tù có thời hạn, cơ quan có thẩm quyền đó là tòa án cần phải cho người cho thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn so với mức án áp dụng thông thường đối với người đã thành niên phạm các tội danh tương ứng;
– Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội khi người đó đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi;
– Nghiêm cấm hành vi áp dụng hình thức xử phạt bổ sung đối với những người được xác định là người chưa thành niên phạm tội.
Như vậy có thể nói, pháp luật hiện nay đã có quy định mức phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội, trong đó có người dưới 16 tuổi. Căn cứ theo quy định tại Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định về tù có thời hạn. Theo đó, mức phạt tù có thời hạn sẽ áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội sẽ được thực hiện như sau:
– Đối với những đối tượng được xác định là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì theo quy định của pháp luật hiện nay, mức hình phạt cao nhất sẽ được áp dụng đối với những đối tượng này sẽ là không quá 18 năm tù, nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất sẽ được áp dụng đối với những đối tượng này sẽ là không vượt quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật đó quy định;
– Đối với những đối tượng được xác định là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội, nếu điều luật đó có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì theo quy định của pháp luật, mức hình phạt cao nhất có thể sẽ được áp dụng đối với những đối tượng này đó là không vượt quá 12 năm tù, nếu điều luật có quy định là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất sẽ được áp dụng đối với những đối tượng này không được vượt quá một phần hai (1/2) mức phạt tù mà điều luật quy định.
Như vậy có thể nói, khung hình phạt cao nhất dành cho những đối tượng được xác định là người dưới 16 tuổi sẽ được thực hiện cụ thể như sau:
– Không vượt quá 12 năm tù nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình;
– Không vượt quá một phần hai (1/2) mức phạt tù trong trường hợp điều luật áp dụng có quy định tù có thời hạn.
2. Nguyên tắc bố trí phòng xét xử trong các vụ án dành cho người dưới 16 tuổi phạm tội:
Theo quy định của pháp luật hiện nay, thẩm quyền xét xử vụ án có người chưa thành niên, trong đó có người dưới 16 tuổi phạm tội sẽ thuộc về Toà gia gia đình và người chưa thành niên. Theo đó, yêu cầu đối với phiên tòa xét xử khi có người phạm tội dưới 16 tuổi sẽ bao gồm một số điều kiện nhất định. Theo đó, phòng xét xử cần phải bố trí một cách thân thiện, đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho người chưa thành niên căn cứ theo quy định tại Điều 3 của Thông tư 01/2017/TT-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao quy định về phòng xử án. Theo đó, điều luật này có quy định cụ thể về nguyên tắc bố trí phòng xử án. Cụ thể như sau:
– Phòng xử án cần phải được bố trí một cách trang nghiêm, quá trình bố trí phòng xử án cần phải đảm bảo tính an toàn và an ninh trật tự của phiên tòa;
– Việc bố trí phòng xử án cần phải thể hiện rõ vị trí, vai trò trung tâm của hội đồng xét xử, trong quá trình bố trí cần phải đảm bảo quyền bình đẳng trước tòa án của các chủ thể tham gia phiên tòa, cần phải đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong quá trình xét xử theo quy định của pháp luật, đồng thời cũng cần phải đảm bảo tuyệt đối quyền bao chữa của các bị cáo, quyền bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đương sự trước phiên toà;
– Việc bố trí phòng xử án cần phải phù hợp với yêu cầu của từng loại vụ án khác nhau, phù hợp với từng vụ việc khác nhau, nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả xét xử của cơ quan có thẩm quyền;
– Đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án gia đình và người chưa thành niên, phòng xử án cần phải bố trí một cách thân thiện, đảm bảo tốt nhất cho người chưa thành niên trong quá trình xét xử.
Như vậy có thể nói, nguyên tắc bố trí phòng xét xử cho các vụ án có người dưới 16 tuổi phạm tội cần phải được thực hiện như sau:
– Thẩm phán cần phải mặc trang phục làm việc hành chính của tòa án nhân dân, không được mặc áo choàng trong quá trình giải quyết;
– Không được xét xử lưu động đối với các vụ án hình sự có sự tham gia của người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi, trong đó có người dưới 16 tuổi phạm tội;
– Nếu có yêu cầu của người chưa thành niên, người đại diện của họ hoặc nhằm mục đích giữ bí mật đời tư, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người chưa thành niên, thì cơ quan có thẩm quyền đó là tòa án cũng có thể tiến hành hoạt động xét xử kín, tuy nhiên cần phải đọc quyết định trong bản án công khai.
Ngoài ra, căn cứ theo quy định tại Điều 414 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có quy định về phiên tòa xét xử dành cho người chưa thành niên phạm tội, trong phiên tòa đó cần phải có mặt của người đại diện người chưa thành niên phạm tội, đại diện của nhà trường, tổ chức nơi người chưa thành niên phạm tội học tập và sinh hoạt.
3. Điều kiện cho người dưới 16 tuổi phạm tội có thể hưởng án treo:
Căn cứ theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (sửa đổi tại Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo), có quy định cụ thể về điều kiện để người bị kết án phạt tù có thể được hưởng án treo. Theo đó, người bị xử phạt tù có thể sẽ được xem xét cho hưởng án treo khi người đó đáp ứng được đầy đủ các điều kiện sau đây:
– Đã bị xử phạt tù không vượt quá khoảng thời gian 03 năm tù;
– Người bị xử phạt tù có nhân thân phù hợp với quy định của pháp luật, tức là ngoài lần phạm tội này thì người phạm tội đã chấp hành đầy đủ chính sách pháp luật, thực hiện và tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú và nơi làm việc;
– Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho nên căn cứ theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, đồng thời không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự căn cứ theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015. Trong trường hợp có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật về hình sự, thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần phải có số lượng nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó phải có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015;
– Người phạm tội có nơi cư trú rõ ràng, có địa điểm cụ thể, nơi làm việc ổn định để cơ quan có thẩm quyền, tổ chức có thẩm quyền dễ dàng giám sát và giáo dục;
– Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét thấy không cần phải áp dụng biện pháp bắt chấp hành hình phạt tù, người phạm tội hoàn toàn có khả năng tự cải tạo, việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội và không gây nguy hiểm cho cộng đồng, việc cho các đối tượng đó vừa dán treo cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội.
Các văn bản pháp luật được sử dụng trong bài viết:
– Thông tư 01/2017/TT-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao quy định về phòng xử án;
– Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017);
– Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
– Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
