Phòng vệ chính đáng theo Bộ luật Hình 2015? Ví dụ minh hoạ?

Các điều kiện của phòng vệ chính đáng: cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng – có hành vi trái pháp luật đang xâm phạm đến các lợi ích hợp pháp; Gây thiệt hại cho chính người đang có hành vi tấn công; Hành vi chống trả được coi là cần thiết.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Phòng vệ chính đáng – 25 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Năm 2015, Việt Nam tiến hành pháp điển hpháp luật hình sự lần thứ ba, tạo ra BLHS năm 2015 với nhiều thay đổi, bổ sung mang tính tiến bphù hợp với tình hình kinh tế, hội của đất nước. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 chưa hiệu lực đã phải sửa đổi, bổ sung do một số lỗi kỹ thuật, BLHS năm 2015 được sửa đổi, bsung năm 2017 bởi Luật số 12/2017/QH14 ny 20 tháng 06 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS s100/2015/QH13, hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018

Chế định phòng vệ chính đáng được quy định ti Điều 22 BLHS năm 2015

Điều 22. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng hành vi của người bảo vquyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tchức chống trả lại một cách cần thiết người đang hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm. 2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hành vi chống trả ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi m hại. Người hành vi vượt qgiới hạn phòng vệ chính đáng phải chu trách nhiệm hình stheo quy định của Bộ luật y

Về bản, quy định của BLHS năm 2015 về phòng vệ chính đáng đã gần như kế thừa toàn bộ nội dung trong quy định của BLHS năm 1999. Tuy nhiên, vẫn những sự thay đổi nhỏ nhưng mang nhiều ý nghĩa của nhà làm luật khi soạn thảo Điều luật y

Thứ nhất, BLHS m 2015 đã đặt việc bo vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác lên trước lợi ích của nhà nước, tổ chức. Điều y phù hợp với tinh thần đề cao quyền tự do của cá nhân con người, bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013. Đồng thời cũng phù hợp với thực tế xảy ra trong thời gian qua khi áp dụng BLHS m 1999, cho thấy các trường hợp phòng vệ chính đáng hoặc vụ án về vượt quá giới hạn chính đáng chyếu xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích cá nhân hoặc lợi ích của người thân bị xâm phạm, từ đó mới nh động phòng vệ chính đáng

Thứ hai, BLHS m 1999 chỉ quy định: bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chứcngười nh vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sựthì BLHS m 2015 đã thêm cụm từ bảo vệ lợi ích: của quantrách nhiệm hình sự của người nh vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được nêu thêm cụm từ: theo quy định của Bluật này. Như vậy, quy định mới trong BLHS năm 2015 đã làm thêm nội dung các lợi ích bảo vệ do hành vi phòng vệ chính đáng phạm vi trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật y

2. Các điều kiện của phòng vệ chính đáng. Ví dụ minh hoạ: 

Điều 22 BLHS năm 2015 đã quy định sở, nội dung phm vi của quyền phòng vệ chính đáng. Một hành vi thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu này mới được coi hành vi phòng vệ chính đáng phù hợp với lợi ích của hội. Những điều kiện này của phòng vệ chính đáng được quy định dựa vào bản chất của hành vi phòng vệ chính đáng ngăn chặn sự tấn công bất hợp pháp, hạn chế thiệt hại do sự tấn công đe doạ gây ra. Các điều kiện của phòng vệ chính đáng được xác định như sau

Một , cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng – có hành vi trái pháp luật đang xâm phạm đến các lợi ích hợp pháp. 

Nhà nước cho phép công dân quyền chống trả lại những hành vi tấn công xâm hại lợi ích hợp pháp. Đây thể coi việc Nhà nước đã uỷ quyền cho công n được thay mặt Nhà nước thực hiện các biện pháp ngăn chặn hành vi phạm tội xảy ra. Do đó, quyền phòng vệ chính đáng được đặt ra khi một người đứng trước hành vi trái pháp luật đang hiện hữu xâm phạm đến lợi ích chính đáng bao gồm 4 nhóm quyền quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân, của người khác, của Nhà nước của các quan, tổ chức. Đang hành vi hiện hữu xâm phạm là hành vi đã bắt đầu chưa kết thúc

dụ: Ngày 19.12.2010, gia đình Hoàng Văn H nợ tiền mua xe ô của Hồ Văn C anh trai của Hồ Anh N. Tháng 5 năm 2016, Hồ Anh N đến nhà H để đòi tiền H và N thỏa thuận H sẽ trả cho N số tiền 15.000.000VNĐ, do lúc đó H việc bận n hẹn N m khác xuống làm giấy tờ. Khoảng 15 giờ ngày 19.6.2016, N điều khiển xe nhãn hiệu YAMAHA, biển kiểm soát 30L905599, màu đen đến nhà H để làm giấy hẹn. Khi HAnh N đến nhà H thì Lường Thị Q con dâu của H nói H đang say rượu ngủ trong phòng, N o gọi H dậy thì xảy ra mâu thuẫn, cãi qua lại, hai bên xô đẩy vật nhau ra đến bậc lên xuống từ sân lên nhà thì N bỏ H ra đi ra phía ngoài công thì H đi ra gần cửa bếp, cạnh chuồng lấy 01 con dao nhọn, cầm trên tay phải chạy đuổi theo N giơ dao n chém về phía sau người N, N quay người lại giơ tay lên đỡ nhưng lưỡi dao của H chém trúng vào mặt của N, N dùng tay trái túm vào cổ tay phải của H đang cầm dao, N H ôm nhau đẩy đến đầu nhà thì N dùng chân ngáng, vật H xuống đất, lúc này N vẫn dùng tay trái túm giữ cổ tay phải của H ng đầu gối chân phải đè lên người H. N dùng tay đấm liên tiếp o đầu mặt H để H buông dao ra. Khi N đánh vào đầu mặt H để H buông dao ra nhưng H vẫn giữ chặt con dao nên N dùng tay phải nắm lấy lưỡi dao để giằng lấy con dao, do lưỡi dao và chuôi dao bị lỏng nên phần lưỡi dao tuột khỏi chuối nên N đã cầm ném lưỡi dao ra cách chỗ N H khoảng 2 mét, rồi N đứng dậy.[66

Trong nh huống này, thể thấy hành vi vi phm pháp luật của H đang diễn ra, hành vi này đã bắt đầu khi H tấn công N vẫn chưa kết thúc do H chưa dừng nh vi tấn công đó lại. Do đó, khi này N chống trả lại H gây thương tích cho H nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội của H trường hợp phòng vệ chính đáng

Nếu hành vi chưa bắt đầu, thì tức hành vi xâm phạm chưa xảy ra cũng chưa đe doạ sẽ xy ra ngay tức khắc, do đó mọi hành vi chống trả không được coi hành vi phòng vệ. Trường hợp hành vi xâm phạm đã kết thúc thì mọi nh vi chống trả cũng không được coi hành vi phòng vệ

Tuy nhiên, trong trường hợp hành vi m phạm y đã kết thúc, nhưng lại hành vi khác tiếp theo của chính người đó xâm phạm đến lợi ích chính đáng cần bảo vệ thì ng không coi nh vi xâm phm đã kết thúc người có hành vi chống trả vẫn được coi phòng vệ. Trường hợp phòng vệ chính đáng này thường bị nhầm với trường hợp tội phạm do tinh thần bị kích động mạnh quy định tại Điều 125, 135 BLHS, vì người bị tấn công không phải người chống trả (người nh vi phòng vệ) người khác (người thba). Tuy nhiên người thứ ba trong trường hợp phòng vệ thể người thân của mình, nhưng ng thể chỉ là một người không quen biết, còn trường hợp phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, người bị xâm phạm chỉ thể người thân của người phạm tội. Trường hợp phòng vệ này càng dễ nhầm với trường hợp phạm ti trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS, người thứ ba trong trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS nh tiết giảm nhẹ thể người thân, nhưng cũng thể người không quen biết. Hành vi phòng vệ hành vi được coi bị kích động về tinh thần chỉ khác nhau tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm phạm. vậy, về phía nạn nhân trong trường hợp phòng vệ phải người hành vi xâm phạm tính chất nguy hiểm đáng kể

Mức độ đáng kể đây tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của quan hệ hội bị xâm phạm (quan hệ xã hội cần bảo vệ) hậu quả hành vi thể gây ra. Nếu quan hệ hội cần bảo vệ càng quan trọng bao nhiêu thì thực tế, hậu quả xảy ra khi nh vi phạm tội càng nghiêm trọng tính chất, mức độ nguy hiểm của nh vi xâm phạm của nạn nhân càng nghiêm trọng bấy nhiêu. dụ: Một người treo tường đột nhập vào nơi cất giữ tài liệu tối mật về an ninh quốc phòng được canh phòng cẩn thận, thì tính chất nghiêm trọng cao hơn nhiều so với người treo tường vào một gia đình ng n để trộm cắp tài sản

Mức độ đáng kể của hành vi xâm phạm còn phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi tấn công của nạn nhân (người hành vi xâm phạm). dụ: Hành vi đe doạ đánh bom trên một chuyến bay sẽ tính nguy hiểm cao hơn nhiều hành vi ăn cắp vặt hay nh vi đánh lộn

Nếu tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm không đáng kể thì nh vi chống trả lại một cách đáng kể không được coi phòng vệ. dụ: Ngày 25/8/2016, Phạm Quốc H chở vợ cùng con 8 tháng tuổi về nhà ngoại Vĩnh Ngọc

Đông Anh chơi. Ti đó, khi ng vợ con đi dạo đầu ngõ gần nhà chị này, Hưng bị hai người nói trên đang trong men say tới gây sự. Hưng nhịn, nhưng hai người đó không chịu rời đi. Hai bên sau đó xát. Vợ Hưng thấy hai người đàn ông đánh chồng chạy tới can ngăn. Song hai người này đánh cả chị cháu . Thấy vậy, Hưng rút dao bấm mang sẵn trong túi đầm hai nạn nhân liên tiếp khiến họ tử vong.” [79] Có thể thấy, việc hai người nạn nhân gây sự tấn công gia đình anh Hưng mức độ nguy hiểm không quá cao, bởi họ không sử dụng khí cũng không khả năng gây thương tích cao, do đó việc anh Hưng sử dụng dao hung khí nguy hiểm đâm chết hai người này không phù hợp với mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, như vậy đây không phải phòng vchính đáng

Hành vi xâm phạm phải hành vi trái pháp luật, nếu hành vi xâm phạm lại hành vi pháp luật cho phép, thì người bị xâm phạm không quyền chống trả để phòng vệ. dụ: Khoảng 23h30 ngày 8/3, tổ C1 Cảnh sát 911 Đà Nẵng tuần tra trên đường Nguyễn Lương Bằng (quận Liên Chiểu), phát hiện khoảng 10 thanh niên đi 5 xe máy mang theo hung khí. Thấy cảnh sát, cả nhóm bỏ chy. Đại Phòng Anh Đại Phúc, Tổ trưởng C1, cùng thượng Nguyễn Hoàng Tùng dùng môtô chuyên dụng truy đuổi theo Minh Duy (trú quận Cẩm Lệ) Hồ Hữu Ngọc (cùng 18 tuổi, trú quận NHành Sơn) đang chở nhau trên chiếc xe máy che kín | biển số. Đại Phúc nổ hai phát súng chỉ thiên trấn áp nhưng Duy không chấp hành, tiếp tục phóng xe về hướng trung tâm thành phố. Đến khu vực phường HMinh (quận Liên Chiểu), khi bị cảnh sát áp sát, người ngồi sau vung dao phóng lợn tự chế để chống cự. Đại Phúc tiếp tục nổ hai phát súng. Cuộc truy đuổi diễn ra qua nhiều tuyến đường trung tâm Đà Nẵng. Khi đi qua cầu sông Hàn, người ngồi sau xe đã lao dao phóng lợn về phía cảnh sát Pc Tùng.[80] Hành vi của Duy tuy nhằm mục đích chống trả lại một hành vi xâm hại nhưng hành vi xâm hại này lại được pháp luật cho phép, do đó, việc tấn công của Duy và Lý không phải phòng vệ chính đáng

Hành vi trái pháp luật, trước hết là hành vi phạm tội những hành vi khác trái với quy định của pháp luật thuộc các ngành lut khác như: Luật hôn nhân và gia đình, luật dân sự, luật hành chính, luật kinh tế các văn bản pháp luật khác. Tuy nhiên, khi xét nh vi xâm phạm trong trường hợp phòng vệ chính đáng phải xét trong mối tương quan với hành vi chống trả, không phải bất cứ hành vi phạm tội nào xảy ra, người hành vi chống trả gây chết người hoặc gây thương tích cho người hành vi xâm phạm đều là phòng vệ chính đáng. Ngược lại, những hành vi xâm phạm chưa phải hành vi phạm tội, nhưng xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của Nnước, của tổ chức của công dân nên hành vi chống trả vẫn được coi phòng vệ chính đáng. Như vậy, khi xem xét hành vi của người đang xâm phạm đến các lợi ích cần bảo vệ, không nhất thiết chỉ căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi xâm phạm phải chú ý đến lợi ích cần bảo vệ, đồng thời phải xét trong mối quan hệ với hành vi chống trả để xác định sự chống trả trong trường hợp cụ thể đó có được coi phòng vệ chính đáng hay không

Pháp luật các nước nói chung nước ta nói riêng không coi hành vi tấn công của người mắc bệnh tâm thần hành vi trái pháp luật, bởi người mắc bệnh tâm thần không nhận thức được hành vi của họ nguy hiểm cho hội nên họ không lỗi. Tuy nhiên, nếu một người bị người mắc bệnh tâm thần tấn công, người bị tấn công vẫn quyền chống trả để bảo vệ mình, nhưng nếu còn thể bỏ chạy mà không chạy lại chống trả gây thiệt hại cho người bị tâm thần thì không được coi phòng vệ. Nhưng nếu bị người say rượu tấn công mình hoặc tấn công người khác thì hành vi gây thiệt hại cho người say rượu lại được coi hành vi phòng vệ, người say rượu nếu xâm phạm đến các lợi ích cần bảo vệ, theo pháp luật nước ta vẫn bị coi là nh vi trái pháp luật

Hai , hành vi phòng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người đang có hành vi tấn công – nơi phát sinh nguồn nguy hiểm để bảo vệ những lợi ích hợp pháp. Đây điều kiện xuất phát từ động của sự phòng vệ ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho hội, do đó phải nhắm vào chính nguồn nguy hiểm, như vậy nguồn gốc làm phát sinh hành vi nguy hiểm cho hội phát sinh hu quả mới bị ngăn chặn, đảm bảo không hành vi hoặc hạn chế tối thiểu hành vi phạm tội xảy ra đảm bảo lợi ích tốt nhất của Nnước, của các quan hệ hội của người phòng vệ lẫn người hành vi xâm hại

Nếu thiệt hại do người hành vi xâm phạm gây ra thlà thiệt hại vtính mạng, sức khoẻ, về tài sản, nhân phẩm, danh dự hoặc các lợi ích hội khác, thì thiệt hại do người hành vi phòng vệ gây ra chỉ thể thiệt hại về tính mạng hoặc sức khoẻ cho người nh vi xâm phạm

Nếu người phòng vkhông gây thiệt hại cho chính người hành vi xâm phạm gây thiệt hại cho người khác (thường người thân của người hành vi xâm phạm), thì không được coi là hành vi phòng vệ

Trường hợp người phòng vệ không gây thiệt hại về tính mạng hoặc sức khoẻ cho người hành vi xâm phạm lại gây thiệt hại khác, thì cũng không được coi là hành vi phòng vệ

Cũng không coi phòng vệ chính đáng trong trường hợp người hành vi xâm phạm gây thiệt hại đến tài sản của người khác, rồi người khác cũng gây thiệt hại lại cũng vtài sản cho người hành vi xâm phạm

Ba , hành vi phòng vệ chỉ được coi là chính đáng, khi hành vi chống trả được coi là cần thiết. Đây một điều kiện thể coi là khó xác định nhất khi xem xét một hành vi phải phòng vệ chính đáng hay không. Ranh giới giữa phòng vệ chính đáng tội phạm rất mong manh nhưng cũng rất ràng, phụ thuộc rất lớn o trí ý chí của người thực hiện hành vi. Mặc vậy, qua nhiều nghiên cứu, thể c định một hành vi chống trả cần thiết theo những luận như sau

Hành vi phòng vệ chính đáng khi hành vi cn thiết, cần thiết không nghĩa ngang bằng một cách định lượng như: Bến xâm phạm gây thiệt hại như thế nào thì bên phòng vệ cũng chỉ được gây thiệt hại như thế. dụ: A tát B vào mặt hai cái thì B cũng chỉ được tát A vào mặt hai cái hoặc A gây thương tích cho B 13% thì B cũng chỉ được gây thương tích cho A 13%, trong hoàn cảnh cụ thể người hành vi xâm phạm thể chỉ mới đe doạ gây thiệt hại ngay tức khắc cho người phòng vệ hoặc cho người khác nhưng người phòng vệ thể gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ cho người xâm hại cũng được coi cần thiết.

Cần thiết cũng khác với tương xứng, tương xứng một đại lượng ng để chỉ sự cân đối giữa sự vt hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác. Khi nói đến sự tương xứng nói đến sự cân bằng. Tuy trước đây trong các văn bản hướng dẫn về phòng vchính đáng cũng nói tương xứng không nghĩa ngang bằng, nhưng không giải được thế nào sự tương xứng giữa hành vi xâm phạm với hành vi phòng vệ và không xác định được sự tương xứng ấy trong thực tế. Trong khi đó, nhiều trường hợp rõ ng hành vi phòng vệ không tương xứng với hành vi xâm phạm nhưng vẫn được coi phòng vệ chính đáng, như vậy giữa khái niệm về phòng vệ chính đáng với thực tiễn xét xử đã những nhân tố không phù hợp. BLHS năm 1999 BLHS m 2015 dùng thuật ngữ cần thiết để thay cho thuật ngữ tương xứngtrong BLHS năm 1985 hoàn toàn chính xác hợp cả về luận thực tiễn xét xử

Cần thiết sự thể hiện tính không thể không chống trả, không thể bỏ qua trước một nh vi xâm phạm đến các lợi ích của hội. Khi đã xác định hành vi chống trả cần thiết, không thể không chống trả được thì thiệt hại gây ra cho người hành vi xâm phạm lớn hơn thiệt hại người hành vi xâm phạm gây ra cho người phòng vệ vẫn được coi phòng vệ chính đáng

Để xác định sự chống trả có cần thiết hay không, trước hết phải căn cứ vào tính chất của các lợi ích bị xâm phạm; tính chất của hành vi xâm phạm các mối tương quan khác giữa hành vi xâm phạm với hành vi phòng vệ

Lợi ích bị xâm phạm càng quan trọng bao nhiêu, thì hành vi chống trả càng phải mạnh mẽ bấy nhiêu. Tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm ng nguy hiểm nghiêm trọng bao nhiêu thì hành vi chống trả càng phải quyết liệt bấy nhiêu. Ngoài ra, trong quá trình đánh giá một hành vi, phải là một hành vi chống trả cần thiết với hành vi phạm tội hay không còn cần căn cứ các yếu tố khác, cụ thể là: mối tương quan lực lượng giữa n xâm phạm bên phòng vệ, thời gian, không gian xảy ra sviệc

dụ: Khoảng 11 giờ ngày 29/4/2017, tại phòng hát số 02 quán Karaoke Toản Club, thuộc địa phận xóm Chim B, huyện Y, Hòa Bình. Bùi Văn A tổ chức sinh nhật cho em gái Bùi Thị D sinh năm 2000. Trong quá trình hát Karaoke có Bùi Văn A khoảng 15 người đều bạn của Bùi Thị G. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm hát của A nghỉ ra quầy làm thanh toán

Lúc này tại phòng hát số 01 của quán nhóm khách đang hát trong đó : Bùi Văn B sinh năm: 1991, Bùi Văn D sinh năm: 1986, C, sinh năm 1985 cùng trú tại: B, huyện Y, Hòa Bình và Quách Văn E, sinh năm 1990, trú tại: H, huyện Y, Hòa Bình (trước đó cả nhóm đó uống rượu tại nhà Bùi Văn D)

Trong quá trình hát, do micro hết pin, nên E cầm micro ra quầy thanh toán để yêu cầu thay pin. Khi ra đến quầy E gặp A đang đứng đó cùng G các bạn của G. A hỏi E người đâu? tên ? em thấy lạ lắm”, E trả lời em người H, bọn anh đi hát à?. Sau đó, giữa A E trao đổi một vài câu i nữa bt tay nhau. A đi ra xe chỗ Bùi Văn X, sinh năm 1995 (cháu của A) đang chờ để chở đi về. E quay lại phòng hát để hát tiếp, lúc này những người trong phòng gồm B, C, D hỏi E sao lâu thế, E kể với mọi người anh hỏi thăm em ngoài kia, sau đó E cùng mọi người hát thêm khoảng 34 phút nữa thì nghỉ. E ra ngoài đi vệ sinh, D lại hát thêm vài phút rồi đi ra sau, B C đi ra ngoài phía n của quán và gặp A đang chuẩn bị đi về, D C xông vào dùng chân tay đánh A liên tiếp từ sân của quán ra đến bờ rào. Do bị đánh liên tiếp, A đã dùng tay trái rút con dao mang theo trong túi quần bên trái (loại dao gấp, bằng kim loại, lưỡi dao nhọn, 2 lưỡi, phần lưỡi dao dài khoảng 10,2cm, cán dao được ghép bằng hai mảnh kim loại, nối với phần ỡi dao bằng ốc vít, ỡi dao thể gấp lại vào trong cán dao, tổng thcon dao dài khong 20cm) đâm khua về phía trước nhằm mục đích để những người kia biết A dao và không xông vào đánh A nữa, nhưng đã trúng vào đầu gối của B. B liền lùi lại nhặt viên đá ném trúng đầu A. Còn C vẫn tiếp tục đánh A, lúc này D đi ra ngoài thấy B bị đâm chảy máu đã xông vào cùng C đánh liên tiếp vào vùng mặt, mắt của A. Lúc này do bị đánh đau, A tiếp tục dùng dao đâm khua về phía trước và trúng vào bụng đùi của C. Thấy vậy, B lao lên dùng tay đánh A thì bị A đâm trúng vùng bụng 01 nhát, B dùng 2 tay giữ được tay cầm dao của A lại rồi ngã xuống, tay vẫn giữ được tay cầm dao của A. Bùi Văn C xông đến giằng được con dao rồi ném qua bờ rào. Bùi Văn A bỏ chạy ra đường Hồ Chí Minh cách nơi xảy ra đánh nhau khoảng 56 mét rồi lên xe máy được Bùi Văn X chở về nhà. Tại hiện trường, Quách Văn E sau khi đi vsinh ra ngoài thấy B, C, D đánh A thì vào can ngắn nhưng không được. Sau khi A bỏ đi E quan sát thấy Bùi Văn B nằm ôm bụng chảy nhiều máu, nên E đã cởi áo bịt vết thương cho B rồi cùng một người khác chở B đi Bệnh viện cấp cứu, còn Bùi n C được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Yên Thủy. Do vết thương quá nặng nên Bùi Văn B đã tử vong tại Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Thủy, anh Bùi Văn C được gia đình chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình để tiếp tục điều trị.[67] thể thấy tuy hành vi của A chưa tương xứng với hành vi tấn công của nhóm người kia, nhưng dựa vào tương quan lực lượng, không gian, thời gian thể xác định hành vi của A phòng vệ chính đáng

Phòng vệ chính đáng không chỉ nhm gạt bỏ sự đe doạ, đy lùi sự tấn công trái pháp luật n thể hiện thái độ tích cực chống trả sự xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, của mình hoặc của người khác. Phòng vệ chính đáng còn quyền của con người chứ không chỉ nghĩa vụ, nên không yêu cầu phương pháp, phương tiện của người phòng vệ phải như phương pháp, phương tiện người tấn công sử dụng

Khi đánh giá một hành vi chống trả cần thiết hay không phải xem xét một cách toàn diện tt cả các tình tiết của vụ án, từng diễn biến của hành vi, trong đó đặc | biệt tâm , thái độ của người phòng vệ khi xảy ra sự việc, họ không có điều kiện để bình tĩnh lựa chn chính xác phương pháp, phương tiện thích hợp để chống trả, nhất trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ, chỉ coi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng khi schống trả ràng quá đáng, dấu hiệu trả thù

Cũng coi phòng vệ chính đáng, nếu trong một hoàn cảnh cụ thể, một người tưởng lầm rằng người khác hành vi xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, của mình hay của người khác họ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ của người đó. Khoa học luật hình sự gọi trường hợp phòng vệ này phòng vệ tưởng tượng. Phòng vệ ng tượng gây thiệt hại cho người khác do tưởng lầm rằng người này đang hành vi xâm phạm nguy hiểm cho hội

Người hành vi phòng vệ tưởng tượng chỉ được coi không lỗi khi hoàn cảnh cthsẽ khiến cho bất kỳ một người nhn thức bình thường nào cũng tin một cách hợp sự xâm phạm thực sự họ tin rằng nh không bị nhầm, nếu đặt vào hoàn cảnh của người khác thì ai ng sẽ bị nhầm như vậy. Nếu sự lầm tưởng lại không căn cứ trong hoàn cảnh cụ thể đó mọi người đều không thể lầm tưởng thì người hành vi xâm hại đến tính mạng sức khoẻ của người khác phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Hiện nay, trong một ssách báo pháp , vấn đề phòng vệ tưởng tượng cũng còn những quan điểm khác nhau: quan điểm cho rằng phòng vệ tưởng tượng không phải phòng vệ chính đáng, không sở của quyền phòng vệ, vấn đề trách nhiệm hình sự vẫn được đặt ra được giải quyết như mọi trường hợp sai lầm kc

Pháp luật Việt nam không thừa nhận nh vi phòng vệ trước (phòng vệ từ xa), tức chưa sự tấn công đã nh vi nhằm ngăn chặn sự tấn công như: lập hành rào điện để chống trộm, dùng bẫy để đề phòng người gian...Nếu việc phòng vệ trước này lại gây ra hậu quả làm chết người hoặc gây thương tích cho người khác thì họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự như các trường hợp tội phạm thông thường (giết người hoặc cố ý gây thương tích). Tuy nhiên, thực tiễn xét xử nếu hành vi phòng vệ trước lại gây thiệt hại cho đúng người phạm pháp thì người phạm tội cũng được chiếu cố giảm nhẹ đáng kể

Một dụ thực tế: Gia đình Trần Văn N thường xuyên bị mất trộm , N đã nhiều đêm thức trắng để phục bắt người trộm nhưng không được, N bèn ly một đoạn giây thép buộc vào cánh cửa chồng cho dòng điện 220 Vol chay qua. Để bảo đảm an toàn cho những người trong gia đình mình, N dặn mọi người phải cẩn thận, trước khi đi ngủ mới được đấu điện vào ng thức dậy phải rút điện ra. đến đêm thứ 9 thì Bùi Văn T vào trộm bị điện giật chết, trên tay T còn cm một bao tải trong đựng 4 con . Mặc N bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo khon 2 Điều 93 BLHS, nhưng Toà án chỉ phạt N 3 năm (dưới mức | thấp nhất của khung hình phạt) nhưng vẫn được nhân dân đồng nh, thậm chí còn ý kiến cho rằng không nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N người bị chết đáng đời, ai bảo đi ăn trộm

đây vấn đề mâu thuẫn giữa ý thức pháp luật với hành vi nguy hiểm cho hội, cũng giống như trường hợp đánh chết người trộm cắp khi bị bắt vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình s. Tuy vậy các nhà làm luật ng nên tính cả đến các yếu tố truyền thống, phong tục, tâm của người Việt Nam trong trường hợp phòng vệ trước. Pháp luật của một số nước kể cả các nước phát triển vẫn quy định trong một số trường hợp phòng vệ trước không phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu nước ta không thừa nhận nh vi phòng vệ trước thì ng nên quy định trong một số trường hợp tội phạm do phòng vệ trước được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự một cách đáng kể. Phòng vệ trước cũng trường hợp phòng vệ quá sớm, tức chưa hành vi tấn công đã hành vi phòng vệ

Phòng vệ chính đáng không phi tội phạm, nhưng nếu nh vi chống trả ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại thì vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Người hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, người hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, trách nhiệm hình sự đối với họ được giảm nhẹ rất nhiều so với trường hợp tội phạm không thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. BLHS quy định hai trường hợp tội phạm do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, đó giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126) cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 136) được coi cấu thành giảm nhẹ đặc biệt (tình tiết vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng dấu hiệu định tội của hai tội danh này). Tuy nhiên, hành vi phạm tội do vượt qgiới hạn phòng vệ chính đáng còn tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 51 BLHS, ngoài hai trường hợp đã được quy định tại Điều 126 Điều 136, thì không trường hợp tội phạm nào thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vchính đáng nữa, nếu theo quy định tại khoản 3 Điều 51 BLHS thì Các tình tiết giảm nhđã được Bluật này quy định dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.. Do đó có ý kiến cho rằng việc quy định nh tiết phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng tình tiết giảm nhẹ là không cần thiết. Nhưng cũng ý kiến cho rằng, việc quy định phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng một tình tiết giảm nhẹ vẫn cần thiết, thực tiễn xét xử một số trường hợp giết người hoặc cố ý gây thương tích thuộc trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng nhưng căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi chống trả với hành vi phòng vệ chưa thuộc trường hợp quy định tại Điều 126 hoặc Điều 136 thuộc trường hợp tội phạm giết người quy định tại Điều 123 hoặc cố ý gây thương tích quy định tại Điều 133, thì người phạm tội vẫn được áp dụng nh tiết giảm nhẹ tội phm trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng phải xác định trường hợp nào thì du hiệu định tội của hai tội quy định ti Điều 126 Điều 136 BLHS, còn trường hợp nào chnh tiết giảm nhẹ đnh tại điểm c khoản 1 Điều 51 BLHS (vượt bao nhiêu thì dấu hiệu định tội, còn vượt bao nhiêu chỉ tình tiết giảm nhẹ)? đây vấn đề rất khó xác định cần phải hướng dẫn của các quan tiến hành tố tụng trung ương

Như vậy, tổng kết lại, một hành vi chỉ được coi là phòng vệ chính đáng nếu nó đáp ứng được các điều kiện: 

Cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng hành vi trái pháp luật đang xâm phạm đến các lợi ích hợp pháp

Hành vi phòng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người đang hành vi tấn công nơi phát sinh nguồn nguy hiểm để bảo vệ những lợi ích hợp pháp

Hành vi phòng vệ chỉ được coi chính đáng, khi hành vi chống trả được coi cần thiết.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư sáng lập, Giám đốc Công ty Luật TNHH Dương Gia.
Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Nguyên Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân Tối cao.
Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại TPHCM.
Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Đà Nẵng.
Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Nguyên Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên.
Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Trưởng chi nhánh Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Miền Trung.
Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại TPHCM.
Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo