Phổ biến thông tin thống kê sai sự thật bị xử phạt thế nào?

Thống kê là một hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu, đánh giá một vấn đề trong đời sống xã hội. Hoạt động thống kê đã có những quy định pháp luật rõ ràng, vậy phổ biến thông tin thống kê sai sự thật bị xử phạt thế nào?

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Phổ biến thông tin thống kê sai sự thật bị xử phạt thế nào?

Căn cứ khoản 18 Điều 3 Văn bản hợp nhất 04/VBHN-VPQH 2021 hợp nhất Luật Thống kê có thể hiểu thông tin thống kê là dữ liệu thống kê được xử lý, tổng hợp và phân tích theo phương pháp, quy trình, chuyên môn, nghiệp vụ thống kê với mục đích phản ánh đặc trưng, thuộc tính của hiện tượng nghiên cứu, bao gồm: số liệu thống kê và bản phân tích số liệu đó.

Điều 3 Nghị định 94/2016/NĐ-CP quy định phổ biến thông tin thống kê nhà nước là việc thông báo, phát hành, truyền đưa thông tin thống kê nhà nước thông qua các phương tiện khác nhau đến cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng thông tin thống kê nhà nước, thông tin gồm: số liệu thống kê và bản phân tích số liệu thống kê

Bản phân tích số liệu thống kê gồm: Báo cáo kinh tế – xã hội tháng, quý I, 6 tháng, 9 tháng và năm; Báo cáo kết quả Điều tra, tổng Điều tra thống kê; Báo cáo phân tích chuyên đề; Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chiến lược, kế hoạch 5 năm và hàng năm.

Việc sử dụng dữ liệu và thông tin thống kê được thực hiện qua những nguyên tắc đó là trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời. Như vậy, hành vi phổ biến thông tin thống kê sai sự thật là hành vi phổ biến những thông tin không có thật, không chính xác, không phản ánh đúng tình hình thực tế của đối tượng nghiên cứu. Đây là một hành vi hết sức nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động nghiên cứu, đánh giá từ đó đưa ra những thông tin sai lệch làm ảnh hưởng đến nhận định về đối tượng nghiên cứu mà có thể gây ra những hậu quả khó lường. Vậy nên nếu có hành vi này sẽ bị phạt vi phạm hành chính, cụ thể căn cứ khoản 2 điều 12 Nghị định 95/2016/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi  Nghị định số 100/2021/NĐ-CP)  thì mức xử phạt cụ thể như sau: 

– Hành vi phổ biến thông tin thống kê sai sự thật.: 

– Hình phạt chính: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng 

– Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc cải chính thông tin thống kê sai sự thật đã phổ biến 

Và theo Điều 4 Nghị định 95/2016/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi  Nghị định số 100/2021/NĐ-CP) quy định mức phạt tiền trên là mức phạt đối với cá nhân, mức phạt đối với tổ chức bằng hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng một hành vi vi phạm.

Đối tượng áp dụng quy định xử phạt này là cá nhân, tổ chức phổ biến và sử dụng thông tin thống kê, nếu cán bộ, công chức, viên chức thực hiện hành vi vi phạm thuộc công vụ, nhiệm vụ trong lĩnh vực thống kê được giao thì không bị xử phạt vi phạm hành chính mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.

Không áp dụng quy định tại Điều 13 của Nghị định này để xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ quan báo chí, nhà xuất bản, thay vào đó việc xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ quan báo chí, nhà xuất bản được thực hiện theo quy định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản.

2. Thẩm quyền xử phạt hành vi phổ biến thông tin thống kê sai sự thật: 

Căn cứ Điều 16, 17 Nghị định 95/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực thống kê được sửa đổi, bổ sung bởi  Nghị định số 100/2021/NĐ-CP của Chính phủ thì thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực này được quy định như sau: 

– Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 3.000.000 đồng.

 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 15.000.000 đồng, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này.

 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền phạt cảnh cáo hoặc hạt tiền đến 30.000.000 đồng, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này.

– Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh cáo.

– Chánh Thanh tra sở; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Tổng cục Thống kê; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 15.000.000 đồng, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này.

– Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp bộ có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 21.000.000 đồng, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này. 

– Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê; Chánh Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 30.000.000 đồng; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định này.

Như vậy, có thể thấy Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê; Chánh Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ gồm: Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Nội vụ; Bộ Tài chính; Bộ Tư pháp; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Xây dựng; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Công Thương; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Y tế; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định tại Chương II của Nghị định này, trong đó có hành vi Phổ biến thông tin thống kê sai sự thật. 

Ngoài ra vì mức phạt tiền đối với hành vi phổ biến thông tin thống kê sai sự thật là từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng nên căn cứ quy định trên thì Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ; Chánh Thanh tra sở; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Tổng cục Thống kê; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở sẽ không có thẩm quyền xử phạt hành vi này. 

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nêu trên là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức bằng hai lần thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân. Trong trường hợp phát hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê, người có thẩm quyền phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính. 

3. Lịch phổ biến thông tin thống kê nhà nước được quy định như thế nào? 

Căn cứ Điều 4 Nghị định 94/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi nghị định số 100/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định về lịch phổ biến thông tin thống kê nhà nước thì thông tin thống kê trong lịch phổ biến thông tin thống kê nhà nước là thông tin thống kê đã được công bố theo quy định. Trước ngày 15 tháng 12 hàng năm, cơ quan thực hiện công bố thông tin thống kê nhà nước phải công khai lịch phổ biến thông tin thống kê nhà nước trong năm kế tiếp trên trang thông tin điện tử của cơ quan.

Lịch phổ biến thông tin thống kê nhà nước gồm các thông tin cơ bản sau:

+ Tên, mức độ hoàn chỉnh của thông tin thống kê

+ Thời gian và hình thức

+ Đơn vị chịu trách nhiệm phổ biến. 

Những văn bản sử dụng trong bài viết: 

Văn bản hợp nhất 04/VBHN-VPQH 2021 hợp nhất Luật Thống kê

Nghị định số 94/2016/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thống kê

Nghị định 95/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực thống kê được sửa đổi, bổ sung bởi nghị định số 100/2021/NĐ-CP của Chính phủ

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo