Pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự có đặc điểm gì?

Pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự là đối tượng đã thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm, phải chịu TNHS về hành vi phạm tội, phải đối mặt với sự áp đặt ý chí thông qua nghĩa vụ và được đảm bảo các lợi ích thiết thân thông qua các quyền.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Khái niệm pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự: 

Lịch sử hình thành nhà nước pháp luật sớm đã ghi nhận về sự tồn tại của thực thể pháp nhân với các quan niệm về một tổ chức được hình thành trên sở liên kết chặt chẽ mục đích thống nhất, đồng thời nhân danh chính bản thân tham gia các quan hệ pháp luật v.v..

Pp nhân trong hệ thống pháp luật tự sản phát triển đến quá độ khi giai cấp này cần phương tiện để củng cố địa vị pháp của các tổ chức kinh tế; đồng thời thông qua đó, tránh rủi ro thể xảy ra trong kinh doanh. Điều này đòi hỏi sự tách biệt trong quan hệ sở hữu đối với tài sản lưu thông tài sản của chshữu nhằm đáp ứng những yêu cầu về phân tán rủi ro; đây cũng lúc một nhân cách pháp mới ra đời sinh ra với mục đích tìm kiếm lợi nhuận

Khái niệm pháp nhân cho đến thời kỳ cận hiện đại đã những tưởng lớn về các xác lập tự cách pháp nhân động của thực thể này; tuy nhiên, các nền lập pháp lại không đồng nhất được cách định nghĩa khái quát nhất cho thực thể này. Dẫu vậy, các quan niệm về khả năng tồn ti độc lập của pháp nhân vẫn được nhiều quốc gia công nhận với nội dung: 

Thứ nhất, pháp nhân tồn tại không phụ thuộc vào sự thay đổi của các thành viên

Thứ hai, pháp nhân quyền tài sản đc lập và chịu trách nhiệm về tài sản đó

Thứ ba, nhân danh nhân danh bản thân thực hiện các hành vi pháp , quyền làm nguyên đơn, bị đơn trước toà án

Việt Nam khái niệm pháp nhân không được nhắc tới trong các văn kiện cổ được du nhập từ các hệ thống pháp luật khác trên thế giới. Trong thời kỳ Pháp thuộc, hình kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi các nhà tưởng pháp đặc biệt sự kiện quốc hữu hoá vào cuối thế kỷ XVIII, thành phần kinh tế không được đa dạng. Sau đó đến thời kỳ hình kinh tế thời chiến được nước ta học tập ca Liên mặc tạo điều kiện cho cách mạng nhưng tạo nên những rào cản khách quan đến shình thành thực thể pháp nhân, đặc biệt pháp nhân thương mại

Cho đến thời kỳ kinh tế thị trường sau đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế đa thành phần đã tạo ra những chuyển biến tích cực cho đời sống kinh tế đất nước. Lúc này, thực thể pháp pháp nhân bắt đầu được ghi nhận tiếp tục hoàn thiện trong BLDS năm 1995, 2005 2015. Theo đó

Một tổ chức được công nhận pháp nhân khi đủ các điều kiện sau đây: a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; i sản độc lập với nhân, pháp nhân khác tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình” 

Với quan niệm về thực thể độc lập trong quyền nghĩa vụ, pháp nhân được thừa nhận khng tham gia tố tụng thông qua người đại diện của mình. Pháp luật Việt Nam sớm đã công nhận khả năng tham gia quan hệ tố tụng của pháp nhân trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, vv...; tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan chủ quan, trong lĩnh vực hình sự khả năng này chỉ mới được công nhận khi BLHS BLTTHS m 2015 được ban nh hiệu lực. Đây cũng lúc các thuật ngữ hình sự TTHS về pháp nhân được đề cập, đặc biệt là pháp nhân bị truy cứu TNHS

Trong TTHS, công tố một quyền đặc biệt nhằm xác định tội phạm và truy cứu TNHS đối với chủ thể của hành vi phạm tội. Theo đó, công tố được hiểu rộng hơn việc truy cứu hậu quả pháp của việc thực hiện tội phạm được thể hiện bằng việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân do luật nh squy định; quyền năng này bắt đầu sớm hơn truy cứu TNHS, ngay sau khi các nghi ngờ hợp về một tội phạm được thực hiện được xác lập bởi quan THTT kết thúc sau khi đã bản án kết tội

Như vậy, pháp nhân bị truy cứu TNHS được hiểu đối tượng của quyền công t, theo đó pháp nhân bị áp đặt đã thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định tội phạm, phải chịu TNHS về hành vi phạm tội của bản thân, phải đối mặt với tiến trình thtục TTHS với sự áp đặt ý chí thông qua nghĩa vụ được đảm bảo các lợi ích thiết thân thông qua các quyền

2. Đặc điểm pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự: 

Thứ nhất, pháp nhân bị cáo buộc đã thực hiện các hành vi nguy hiểm đáng kể cho hội tội phạm. Cùng với sự bổ trợ về mặt pháp hình sự các công cụ TTHS khác, pháp nhân (cụ thể pháp nhân thương mại trong PLHS Việt Nam) được ghi nhận về khả năng thực hiệnhành vi xâm hại các khách thể LHS bảo vệ, địa vị pháp để tham gia tố tụng với vai trò bị can, bị cáo. Mặt khác, mặc hành vi phạm tội của pháp nhân chủ yếu được thực hiện thông qua thể nn thành viên cấu thành pháp nhân đó, theo cơ chế ràng buộc bằng văn bản (điều lệ hoặc hợp đồng nhưng ràng hậu quả của hành vi đáng kể, cần lên án, ngăn chặn kịp thời. Đặc biệt, chế đại diện cho phép một nhân cụ thể tham gia quan hệ hội bao gồm các lĩnh vực như hành chính, dân sự, kinh doanh thương mại,... hình sự với cách một người khác, bao gồm cả pháp nhân. Nói cách khác, thông qua các quy định về uỷ quyền thừa uỷ quyền pháp luật thừa nhận khả năng xác lập hành vi của pháp nhân

Thứ hai, pháp nhân bị truy cứu TNHS phải đối mặt với hệ thống TPHS các thủ tục TTHS chặt chẽ. Giống như thể nhân khi bị nghi ngờ về việc đã thực hiện một tội phạm pháp nhân cũng phải đối mặt hệ thống TPHS bao gồm CQĐT, VKS, Toà án và các thiết chế bổ trợ khác, trở thành đối tượng yếu thế hơn do thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Việc áp dụng các biện pháp tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự bao giờ cũng tuân theo các quy định chặt chẽ về thẩm quyền, căn cứ thủ tục nhằm tránh sự tuỳ tiện lạm quyền. Cũng giống như người (thể nhân) bị truy cứu TNHS, pháp nhân bị truy cứu TNHS phải đối diện với thủ tục tố tụng ngay khi các nghi ngờ về một tội phạm hướng tới họ; các hoạt động mang tính cưỡng chế thể được thực hiện trước khi các quyết định liên quan đến việc truy cứu TNHS xuyên suốt quá trình TTHS cho đến khi pháp nhân đó bị kết tội bởi một bn án đúng pháp luật

Quy định BLHS BLTTHS nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, không sự ch biệt ràng giữa chủ thể nhân pháp nhân; hệ thống TPHS không phân chia riêng biệt thành hai phần chỉ quy định các nội dung đặc thù khác biệt giữa hai chủ thể này nhằm đảm bảo yêu cầu về đấu tranh phòng chống tội phạm hoạt động tố tụng

Thứ ba, nghĩa vquyền của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Mặc hạn bị chế do áp đặt nghĩa vụ và áp dụng các biện pháp tố tụng, trong các trường hợp khác nhau, quyền lợi ích ca pháp nhân vẫn được đảm bảo, đặc biệt quyền được xét xử công bằng (Right to a fair trial). Với nội dung quyền bản và được bảo đảm từ nhiều quyền cụ thể khác trong TTHS như: quyền được xét xử bình đẳng không phân biệt hình thức sở hữu thành phần kinh tếĐiều 3 BLHS năm 2015; quyền được xét xử công minh bởi tòa án độc lập, khách quan, theo đúng quy định pháp luật; ngoài ra còn các quyền như: quyền bào chữa, tự bào chữa; quyền được bảo đảm suy đoán tội;.v.v...  

Xuất phát từ lẽ doanh nghiệp thể bị truy tố như nhân nên họ cũng phải quyền như nhân tại nhiều nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa nhằm mục đích hướng tới sự bình đẳng tương đối giữa pháp nhân thể nhân; hệ thống pháp nh sự nhiều quốc gia xây dựng cấu trúc quyền nghĩa vụ của pháp nhân bị truy cứu TNHS tương đối giống với nhân. Cụ thể tại Việt Nam, Điều 74 BLHS năm 2015 Điều 431 BLTTHS m 2015, hệ thống pháp hình scho phép áp dụng các quy định không trái các quy định chung về việc giải quyết vụ án hình sdo pháp nhân phạm tội

3. Mục đích của chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự Việt Nam: 

TNHS pháp nhân thương mại một chế đnh mới được quy định trong PLHS thực định Việt Nam, với mục đích thống nhất răn đe ngăn ngừa hậu quả các tội phạm xảy ra tương lai; do những hậu quả của những hành vi tội phạm này thường gây ra những thiệt hại đáng kể cho hội. Đồng thời, mục tiêu thứ hai của việc ghi nhận TNHS pháp nhân thương mại là phản ánh nhiệm vụ của xã hội của PLHS trừng phạt những kẻ gây tổn hi để khẳng định giá trị thực của nạn nhân. Trong các trường hợp cụ thể, đặc biệt khi hậu quả vật chất do hành vi phạm tội của pháp nhân đã xảy ra, thông qua các thiết chế hình sự các quan thẩm quyền có thể cưỡng chế pháp nhân phục hồi trạng thái ban đầu của tài sản, khắc phục thiệt hại hoặc bồi thường thích đáng cho phía nạn nhân

TNHS pháp nhân thương mại tạo sở cho hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm hữu hiệu hơn, đặc biệt trong các trường hợp pháp nhân hay doanh nghiệp được thành lập, đưa vào hoạt động những động phạm tội trước đó. Thêm vào đó, TNHS pháp nhân góp phần quan trọng trong việc xây dựng một hình kinh tế lành mnh chống tiêu cực, lợi ích nhóm phát triển đảm bảo lợi ích cộng đồng

Ngoài ra, TNHS pháp nhân thương mại đồng thời căn cứ khảo nghiệm cho sự cần thiết hay không đối với việc mở rộng phạm vi TNHS đối với pháp nhân phi thương mại

4. Ý nghĩa của chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong Bộ luật Hình sự Việt Nam: 

Thứ nhất, việc ghi nhận TNHS pháp nhân (cụ thể TNHS pháp nhân thương mại) tạo sở pháp vững chắc cho việc đảm bảo quyền công dân, quyền con người không chỉ trong TTHS mà còn trong hiến pháp các luật chuyên ngành khác. Trước hết, PLHS đảm bảo bằng cách ghi nhận quyền công dân, quyền con người khách thể của LHS; điều này nghĩa LHS xác định đây là nhóm khách thể đặc biệt quan trọng, khi xâm hại đến chủ thể của hành vi xâm hại có thể phải chịu các chế tài nghiêm khắc nhất của pháp luật. Các hành vi nguy hiểm thực hiện bởi pháp nhân được đưa vào kiểm soát, với mức độ chế i nghiêm khắc tương ứng, từ đó tạo nên công cụ pháp ngăn chặn đấu tranh với các hành vi nguy hiểm từ nhóm chủ thể này

Thứ hai, việc ghi nhận TNHS pháp nhân cải thiện thúc đẩy chất lượng quản nhà nước, đưa nguyên tắc pháp chế hội chủ nghĩa gần hơn với đời sống hội; đồng thời thể hiện thái độ kiên quyết của nhà nước trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm

Thứ ba, việc ghi nhận TNHS pháp nhân tạo nền tảng phát triển hình tố tụng đối với pháp nhân mang giá trị hội cao; đồng thời tạo niềm tin của nhân dân o hệ thống TPHS

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo