Phân biệt tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản và các tội chiếm đoạt tài sản khác

Dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản khi người phạm tội thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực là người bị đe dọa có lâm vào tình trạng không thể chống cự được hay không.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Một số nội dung cần lưu ý, phân biệt, làm rõ khi định tội danh giữa tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản: 

Tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản những đặc điểm chung được thực hiện do hình thức lỗi cố ý trực tiếp, mục đích của tội phạm đều nhằm chiếm đoạt tài sản. Chủ thể của hai tội cướp cưỡng đoạt tài sản đều do bất kỳ người nào thực hiện, khi họ đủ năng lực TNHS đủ độ tuổi theo quy định

Thực tiễn quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tính chất chiếm đoạt tài sản, quan tiến hành tố tụng thường nhầm lẫn trong việc định tội danh do dấu hiệu pháp đặc trưng của những tội phạm này điểm tương đồng

Theo tác giả Đinh Văn Quế (nguyên Chánh tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao), việc phân biệt loại tội phạm này cần căn cứ vào chủ thể tội phạm; động , mục đích của người phạm tội điều kiện thực tế để đánh giá, cụ thể:

Tội cướp tài sản thường chỉ bị nhầm lẫn với tội cưỡng đoạt tài sản trong trường hợp người phạm tội hành vi đe dọa dùng lực.

Trước hết, cần khẳng định cả hai tội này đều giai đoạn chuẩn bị phạm tội phạm tội chưa đạt. Tuy nhiên, đối với tội cướp tài sản, phạm tội chưa đạt chỉ xảy ra trong trường hợp người phạm tội đã hành vi khác làm cho người bị hại lâm vào tình trạng không thể tấn công được nhằm chiếm đoạt tài sản. Còn dùng lực hoặc đe dọa dùng lực ngay tức khắcthì không trường hợp phạm tội chưa đạt đều tội phạm đã hoàn thành

Trước đây về luận, đều khẳng định tội cướp tài sản tội cấu thành hình thức, tức chỉ cần người phạm tội hành vi dùng lực hoặc đe dọa dùng lực ngay tức khắc tội phạm đã hoàn thành, không trường hợp phạm tội chưa đạt. Tuy nhiên, sau khi Điều 133 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung nay BLHS năm 2015 cũng quy định dấu hiệu hoặc hành vi khác, thì tội cướp tài sản vừa tội cấu thành hình thức, vừa tội cấu thành vật chất, tức trường hợp tội phạm chưa đạt

Mặc trường hợp dùng lực hoặc đe dọa dùng lực ngay tức khắc không giai đoạn phạm tội chưa đạt nhưng vẫn có giai đoạn chuẩn bị phạm tội như: Trường hợp người phạm tội đỉnhdùng lực hoặc đe dọa dùng lực ngay tức khắc, nhưng khách quan trở ngại nên không thực hiện được hành vi dùng lực hoặc đe dọa dùng lực. dụ: A, B, C, D bàn bạc chuẩn bị súng, dao để ra đường chặn người đi xe máy cướp tài sản. Nhưng trước khi đi thì D sợ nên đã báo với Công an đến bắt nóngA, B, C. Tuy A, B, C chưa thực hiện hành vi dùng lực hoặc đe dọa dùng lực nhưng A, B, C đều phải bị truy cứu TNHS về tội cướp tài sản giai đoạn chuẩn bị phạm tội

Đối với tội cưỡng đoạt tài sản, người phạm tội chỉ hành vi đe dọa dùng lực chứ không ý định nếu người bị hại không giao tài sản thì dùng lực. Đây vấn đề khó xác định, khi đã đe dọa dùng lực nhưng người bị đe dọa không giao tài sản vụ việc bị phát hiện, thì hầu hết người phạm tội đều khai chỉ dọa cho sợ để lấy tài sản, nếu người bị hại không giao tài sản thì cũng không dùng bạo lực

Cần lưu ý tội cướp tài sản tội cưỡng đoạt tài sản tuy đều hành vi đe dọa dùng lực nhưng hai hành vi này khác nhau về bản chất. tội cướp tài sản, tính chất của sự đe dọa đe dọa dùng lực ngay tức khắc, còn tội cưỡng đoạt tài sản, tính chất của sự đe dọa đe dọa sẽ dùng lực

Để phân biệt trường hợp đe dọa dùng bạo lực ngay tức khắc với chỉ dọa không đe dọa dùng bạo lực ngay tức khắc, phải căn cứ vào không gian, thời gian xảy ra vụ án. Theo PGS.TS Dương Tuyết Miên, việc phân biệt các dấu hiệu này cần căn cứ những điểm sau

Đe dọa dùng lực ngay tức khắc thể hiện sự nhanh chóng về thời gian (xảy ra ngay lập tức) chỉ sự mãnh liệt của hành vi đe dọa, khi hành vi này xảy ra, người bị đe dọa hiểu rằng, nếu không trao ngay tài sản cho người đe dọa thì ngay lập tức, tính mạng sức khỏe của họ thể bị xâm hại thời điểm xảy ra hành vi đe dọa. Sự đe dọa này khả năng làm liệt ý chí của người bị đe dọa. Dấu hiệu ngay tức khắc chỉ đòi hỏi người phạm tội đã hành vi, cử chỉ, thái độ thể hiện ra bên ngoài dùng lực ngay tức khắc không đòi hỏi họ phải ý định thực sự.. 

tội cưỡng đoạt tài sản, hành vi đe dọa sẽ dùng lực thực chất đe dọa dùng lực trong tương lai chứ không phải ngay tức khắc, hay nói cách khác, giữa hành vi đe dọa việc dùng lực khoảng cách về thời gian, sức mãnh liệt của sự đe dọa chưa đến mức thể làm liệt sự phản kháng của người bị đe dọa chỉ khả năng khống chế ý chí của họ, người bị đe dọa vẫn còn khả năng, điều kiện cân nhắc, lựa chọn biện pháp xử sự cho mình.

Như vậy, dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt hai tội này khi người phạm tội thực hiện hành vi đe dọa dùng lực người bị đe dọa lâm vào tình trạng không thể chống cự được hay không. Dấu hiệu này hoàn toàn tùy thuộc vào tình hình thực tế để đánh giá

Hai tội cướp cưỡng đoạt tài sản hình phạt khác nhau tội cướp tài sản mức độ nguy hiểm hơn so với tội cưỡng đoạt tài sản. Khoản 1 Điều 168 BLHS về tội cướp tài sản quy định phạt từ 3 năm đến 10 năm, khoản 1 Điều 170 BLHS về tội cưỡng đoạt tài sản quy định phạt từ 1 năm đến 5 năm. Khoản 2 Điều 168 BLHS về tội cướp tài sản quy định phạt từ 7 năm đến 15 năm; khoản 2 Điều 170 BLHS về tội cưỡng đoạt tài sản quy định phạt từ 3 năm đến 10 năm. Hình phạt cao nhất của tội cướp tài sản quy định tại khoản 3 Điều 168 đến 20 năm; Hình phạt cao nhất của tội cưỡng đoạt tài sản quy định tại khoản 3 Điều 170 đến 15 năm. Hình phạt cao nhất của tội cướp tài sản từ chung thân hoặc tử hình; hình phạt phạt cao nhất của tội cưỡng đoạt tài sản đến 20 năm

2. Một số nội dung cần phân biệt, làm rõ khi định tội danh giữa tội cướp tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác: 

2.1. Phân biệt tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản: 

Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS) đều giống nhau về chủ thể của tội phạm (bất kỳ người nào năng lực TNHS) mục đích của tội phạm chiếm đoạt tài sản (định lượng tài sản chiếm đoạt không phải yếu tố định tội chỉ yếu tố định khung hình phạt

Tuy nhiên, về hành vi phạm tội: Tội Cướp tài sảnsử dụng hành vi dùng lực, đe dọa lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, còn tội cướp giật tài sản người phạm tội không sử dụng lực (tuy một số trường hợp sử dụng sức mạnh như đạp, cho bị hại ngã để cướp), đe dọa lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được như trong tội Cướp tài sảnchỉ dựa vào sự nhanh nhẹn của bản thân sự hở của người bị hại, hay trường hợp người bị hại không đủ khả năng bảo vệ tài sản

Như vậy, tính công khai của tội phạm yếu tố bản để phân biệt hai tội danh này trên thực tế

Chuyển hóa tội phạm: Trường hợp người phạm tội sau khi đã cướp giật được tài sản nhưng sau đó bị hại hoặc người khác giành, giật lại được tài sản người phạm tội dùng lực hoặc đe dọa dùng lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để giành lại tài sản thì sự chuyển hóa từ tội Cướp giật tài sảnsang tội Cướp tài sản. Trường hợp này, người phạm tội bị phát hiện tại thời điểm thực hiện hành vi chứ không phải một khoản thời gian sau người phạm tội đã dùng vũ lực tấn công nạn nhân thể cả người khác) nhằm mục đích lấy, giữ, chiếm đoạt bằng được tài sản

dụ: A đi xe máy trên đường với ý đồ xem ai sở hở thì giật điện thoại túi xách, thấy chị N đang đi xe máy một mình đeo túi xách, A liền tiếp cận sau đó giật túi xách của chị N và bỏ chạy thì bị chị Ng giằng co giữ lại. A lập tức hành vi dùng lực đạp ngãchị B xuống đường giật lại tài sản. Như vậy, đây đã sự chuyển hóa tội phạm từ tội cướp giật tài sản sang tội cướp tài sản

2.2. Phân biệt tội cướp tài sản và tội trộm cắp tài sản: 

Tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS) tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) Điều 173 BLHS quy định về tội Trộm cắp tài sản: 1.Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt từ 06 tháng đến 03 năm

Điểm khác nhau bản của hai tội phạm này đó chính mức độ công khai của hành vi

Trong tội Cướp tài sảnngười phạm tội dùng lực, đe dọa dùng lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Trong tội Trộm cắp tài sảnthì người phạm tội thực hiện một cách lén lút. Như vậy, trong tội Cướp tài sảntính công khai của người phạm tội rõ ràng hơn so với tội Trộm cắp tài sản

Ngoài ra trong tội Trộm cắp tài sảnđịnh lượng giá trị tài sản chiếm đoạt được quy định trong cấu thành bản còn đối với tội Cướp tài sảnthì không quy định

Chuyển hóa tội phạm: Cũng giống như hành vi chuyển hóa trong tội Cướp giật tài sản, trường hợp người phạm tội sau khi đã trộm cắp được tài sản nhưng sau đó bị hại hoặc người khác giành, giật lại được tài sản người phạm tội dùng lực hoặc đe dọa dùng lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để giành lại tài sản thì sự chuyển hóa từ tội Trộm cắp tài sảnsang tội Cướp tài sản

dụ: A lợi dụng hở đã lẻn vào nhà của B để trộm cắp tài sản, trong quá trình lẻn vào nhà B, A quan sát thấy B đang ngủ túi xách để ở đầu giường. A liền đi đến lấy tiền điện thoại trong túi rồi tẩu thoát nhưng va vào quạt gây tiếng động. B nghe tiếng động nên tỉnh dậy hoán A liền đấm, đạp vào mặt B làm B ngã lăn ra đất bất tỉnh. Sau đó, A dắt chiếc xe máy đi ra khỏi cổng tẩu thoát. Trường hợp này, hành vi của A đã chuyển hóa từ tội trộm cắp tài sản sang tội Cướp tài sản

2.3. Phân biệt tội cướp tài sản và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản: 

BLHS năm 2015 quy định về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản:

1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

(a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

(b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

(c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

Điểm khác nhau bản giữa hai hành vi phạm tội này đó tính công khai trong hành vi phạm tội: Nếu trong tội Cướp tài sảnngười phạm tội dùng lực, đe dọa dùng lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được mới chiếm đoạt được thì trong tội Công nhiên chiếm đoạt tài sảnngười phạm tội không cần dùng thủ đoạn nào cũng vẫn chiếm đoạt được tài sản

Chủ thể tội phạm này người từ đủ 16 tuổi trở lên còn đối với tội Cướp tài sảnthì chủ thể người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

Cũng giống như tội Trộm cắp tài sảnthì tội này tài sản chiếm đoạt giá trị để định khung hình phạt

3. Một số nội dung cần phân biệt, làm rõ khi định tội danh giữa tội cưỡng đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác: 

3.1. Phân biệt tội cưỡng đoạt tài sản với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản: 

BLHS năm 2015 quy định về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản: Người nào bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt từ 02 năm đến 07 năm.

thể thấy, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được thực hiện dưới dạng hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản. Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội thể hiện thông qua hành vi đe dọa người tài sản

Giữa tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản nhiều điểm tương đồng như cùng xâm phạm đến hai khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ quan hệ sở hữu quan hệ nhân thân; mục đích chiếm đoạt tài sản dấu hiệu bắt buộc để định tội; cùng hành vi đe dọa dùng lực ..

Tuy nhiên, mức độ xâm hại đến quan hệ nhân thân của hai hành vi cưỡng đoạt tài sản hành vi bắt cóc người khác làm con tin khác nhau. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu đã tác động đến quyền tự do thân thể của người bị bắt cóc, sau đó tác động đến tính mạng, sức khỏe của họ. Tội cưỡng đoạt tài sản tác động rất ít đến nhân thân, chỉ gây ra lo lắng, sợ hãi cho người chủ sở hữu tài sản

Người phạm tội cưỡng đoạt tài sản thể dùng bất cứ phương thức, thủ đoạn nào để uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng họ không thực hiện hành vi bắt cóc người khác làm con tin để uy hiếp tinh thần người khác. Nếu người phạm tội hành vi bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản thì không kể thời gian giam, giữ con tin bao lâu thì vẫn phạm tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, ngay cả trong trường hợp đối tượng chưa bắt cóc được người khác làm con tin nhưng đủ căn cứ chứng minh đối tượng ý định bắt cóc người khác làm con tin nhằm chiếm đoạt tài sản

3.2. Tội cưỡng đoạt tài sản với tội cướp giật tài sản: 

Mục đích của người phạm tội cướp giật tài sản cũng chiếm đoạt tài sản nhưng khác với các tội cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản hay bắt cóc chiếm đoạt tài sản, mục đích chiếm đoạt tài sản không phải dấu hiệu định tội cướp giật tài sản. Người phạm tội phải thực hiện hành vi cướp giật chiếm đoạt được tài sản trên thực tế thì mới bị xử theo tội danh này

Dấu hiệu đặc trưng của tội cướp giật tài sản so với các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt khác công khai nhanh chóng. Dấu hiệu công khai thể hiện chỗ người phạm tội cướp giật tài sản của mình tính chất công khai hoàn toàn không che giấu hành vi đó. Dấu hiệu nhanh chóng phản ánh thủ đoạn thực hiện hành vi chiếm đoạt của người cướp giật tài sản; bằng việc lợi dụng hở của chủ sở hữu tài sản nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt tài sản nhanh chóng lẩn trốn

Khác với tội cưỡng đoạt tài sản, người phạm tội cướp giật tài sản không mục đích khống chế ý chí kháng cự của chủ sở hữu không nhằm đe dọa gây nguy hại về tính mạng sức khỏe cho chủ sở hữu chỉ mục đích công khai nhanh chóng chiếm đoạt tài sản. Thông thường, người chủ sở hữu hoặc người quản tài sản không kịp phản ứng để ngăn cản hành vi chiếm đoạt của người phạm tội. Nếu khi thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội hành vi đe dọa dùng lực để uy hiếp tinh thần người khác nhằm công khai nhanh chóng chiếm đoạt tài sản thì người đó phạm tội cưỡng đoạt tài sản chứ không phải cướp giật tài sản. Hành vi đe dọa sẽ dùng lực trong tội cướp giật tài sản nếu thì chỉ nhằm giảm quyết tâm bắt giữ của người đang đuổi bắt, tạo điều kiện cho người phạm tội chạy thoát chứ không liên quan đến việc chiếm đoạt tài sản

3.3. Phân biệt tội cưỡng đoạt tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản: 

Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, người phạm tội không hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa sẽ dùng lực để chiếm đoạt tài sản lợi dụng tình trạng chủ sở hữu tài sản vào điều kiện, hoàn cảnh không thể ngăn cản được để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt tài sản, người thực hiện hành vi phạm tội không làm cho chủ sở hữu tài sản lo sợ phải giao tài sản

Về hậu quả: tội cưỡng đoạt tài sản không bắt buộc phải hậu quả xảy ra, hành vi khách quan đã phản ánh đầy đủ tính chất nguy hiểm cho hội còn tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, hậu quả yếu tố bắt buộc cấu thành tội phạm

Về khách thể: tội cưỡng đoạt tài sản xâm hại cùng một lúc hai khách thể quan hệ sở hữu quan hệ nhân thân nhưng chủ yếu quan hệ sở hữu, nếu xâm phạm đến quan hệ nhân thân thì không phải những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe chỉ thể những thiệt hại về tinh thần (sợ hãi, lo âu), tuy ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng không gây ra thương tích cho người bị hại, trong khi đó, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản chỉ xâm hại đến một khách thể quan hệ sở hữu, không xâm hại đến khách thể quan hệ nhân thân thân

Về mặt chủ quan: Đối với tội cưỡng đoạt tài sản, mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội thể trước khi thực hiện hành vi đe dọa sẽ dùng lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người chủ sở hữu hoặc trách nhiệm quản tài sản nhưng cũng có thể xuất hiện trong hoặc sau khi đã thực hiện hành vi đe dọa sẽ dùng lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người người chủ sở hữu hoặc trách nhiệm quản tài sản. Trong tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, mục đích chiếm đoạt tài sản bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt. Nói cách khác thì hành vi chiếm đoạt tài sản bao hàm mục đích của người phạm tội.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư sáng lập, Giám đốc Công ty Luật TNHH Dương Gia.
Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Nguyên Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân Tối cao.
Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại TPHCM.
Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Đà Nẵng.
Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Nguyên Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên.
Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Trưởng chi nhánh Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Miền Trung.
Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư của Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại TPHCM.
Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại TPHCM.
Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo