Nội dung quy định quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa 

Để có thể thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ liên quan.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

BLTTHS năm 2015 quy định người bào chữa quyền thu thập, đưa ra chứng cứ một quy định tiến bộ đã bước đầu đáp ứng được yêu cầu của Cải cách pháp trên sở nguyên tắc bình đẳng, công bằng của chủ thể gỡ tội với chủ thể buộc tội. Quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa được quy định tại điểm h, khoản 1 điều 73: “Người bào chữa quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Người bào chữa thu thập chứng cứ của ai? Ai phải nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho người bào chữa? cách thức thu thập chứng cứ từ những người này như thế nào? BLTTHS năm 2015 quy định phạm vi những người người bào chữa thu thập chứng tại khoản 2 điều 88

Để thu thập chứng cứ, người bào chữa quyền gặp người mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị quan, tổ chức, nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa

Trong trường hợp người bào chữa không thể thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa từ những người này thì phải làm ?. Khoản 3 điều 81 BLTTHS quy định: Trường hợp không thể thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa thì người bào chữa thể đề nghị quan thẩm quyền tiến hành thu thập. Không phải tài liệu, thông tin, đồ vật nào cũng được coi chứng cứ. Chúng chỉ trở thành chứng cứ khi được thu thập theo quy định của BLTTHS. Những thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không giá trị pháp không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự, khoản 2 điều 87 BLTTHS năm 2015. Việc quy định như vậy để loại trừ chứng cứ nhằm khắc phục những biểu hiện, tùy tiện của người thẩm quyền THTT trong quá trình giải quyết vụ án. Thời điểm người bào chữa thể thu thập chứng cứ khi nào?. người bào chữa thể thu thập chứng cứ từ bất kỳ thời điểm nào kể từ khi khởi tố vụ án đến sau khi bản án hiệu lực pháp luật

Bên cạnh việc thu thập chứng cứ BLTTHS năm 2015 còn quy định về thời điểm đưa ra chứng cứ của người bào chữa tại khoản 2 điều 81

Tùy từng giai đoạn tố tụng, khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa, người bào chữa phải kịp thời giao cho quan thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ vụ án. Việc giao, nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này

Từ các quy định trên, người bào chữa thực hiện quyền thu thập, đưa ra chứng cứ theo cách thức sau

1. Thực hiện quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa:

1.1. Thu thập chứng cứ của người bào chữa thông qua nhóm quyền theo quy định tại Khoản 1 điều 73 BLTTHS năm 2015: 

Thực hiện quyền thu thập chứng cứ thông qua quyền gặp, hỏi người bị buộc tội. Thông thường việc gặp, hỏi người bị buộc tội hai trường hợp: Thứ nhất, người bị buộc tội không bị áp dụng biện pháp tước tự do thì việc gặp, hỏi để thu thập những thông tin về vụ án, thông tin liên quan đến trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại... hoặc những tài liệu chứng cứ phục vụ cho công tác bào chữa, để bảo vệ cho người bị buộc tội tội hoặc những tình tiết giảm nhẹ TNHS cho họ khá thuận lợi hầu như không gặp khó khăn

Thứ hai, trường hợp người bị buộc tội đang bị tạm giữ, tạm giam thì người bào chữa ngoài việc thực hiện những quy định của BLTTHS năm 2015 còn phải tuân thủ các quy định của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 về việc gặp, hỏi người bị buộc tội. Mặc luật Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 quy định tại Khoản 3 điều 22: Người bào chữa được gặp người bị tạm giữ, người bị tạm giam để thực hiện bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Luật này tại buồng làm việc của sở giam giữ hoặc nơi người bị tạm giữ, tạm giam đang khám bệnh, chữa bệnh...: trường hợp này thì ngoài việc hỏi thông tin về vụ án, làm một số vấn đề liên quan đến thông tin về nhân thân thì vấn đề thu thập chứng cứ dường như không khi mới bị tạm giữ, tạm giam thì người bị buộc tội dường như không bất kỳ một chứng cứ hay tài liệu nào

Thực hiện quyền thu thập chứng cứ, thông tin của vụ án thông qua quyền mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can của người bào chữa. Điểm b, khoản 1 điều 73 BLTTHS năm 2015 quy định

mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can nếu người thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can

Quy định này, khẳng định quyền được hỏi người bị buộc tội sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người thẩm quyền tiến hành tố tụng kết thúc đó quyền đương nhiên của người bào chữa. Đây cũng một tiến bộ đáng kể được pháp luật tố tụng quy định dành quyền đó cho người bào chữa chứ không phụ thuộc vào sự cho phép của người tiến hành tố tụng BLTTHS năm 2003 đã quy định. Tuy nhiên, sự mặt của người bào chữa trong trường hợp này thường mang tính chất giám sát việc lấy lời khai, hỏi cung hơn thu thập chứng cứ bởi các thông tin đưa ra trong các buổi hỏi cung sẽ được sắp xếp hỏi theo hướng buộc tội của Điều tra viên, do đó thông tin NCB nhận được thường rời rạc không logic

Thực hiện quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa thông qua các hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói hoạt động điều tra khác. Đây lẽ những hoạt động người bào chữa được tiếp xúc trực tiếp với những lời khai nhiều chiều từ hoạt động đối chất, nhận dạng ... BLTTHS năm 2015 quy định tại Điểm c, khoản 1 điều 73 người bào chữa quyền mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này. Thông qua những hoạt động này, người bào chữa tiếp cận được thông tin, diễn biến hay vị trí vai trò của người bị buộc tội trong vụ án một cách khá chi tiết hoặc diễn biến của chuỗi hành vi phạm tội của người bị buộc tội trong vụ án. Những thông tin thu thập được từ việc tham gia các hoạt động này thường sẽ logic khá đầy đủ. Qua thông tin thu nhận được tự phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch thu thập chứng cứ phục vụ việc bào chữa từ nhiều phía, đa chiều nhiều nguồn chứng cứ để thu thập

Thực hiện quyền thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người bào chữa được quy định tại điểm h, khoản 1 điều 73 BLTTHS năm 2015 người bào chữa quyền: Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Đây một quyền được quy định trực tiếp cho người bào chữa không phụ thuộc vào người tiến tố tụng như hai trường hợp trên. người bào chữa thực hiện quyền thu thập chứng cứ trong suốt quá trình giải quyết vụ án từ khi được vào sổ đăng bào chữa đến khi bản án hiệu lực pháp luật. Kết quả của việc thu thập chứng cứ của người bào chữa được đưa ra trong suốt quá trình giải quyết tùy thuộc vào thời gian hoặc giai đoạn tố tụng người bào chữa thu thập được cuối cùng sẽ tại phiên tòa xét xử. Tại đây người bào chữa, người bị buộc tội bên buộc tội bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm sự thật khách quan của vụ án tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước tòa án. Mọi chứng cứ, tình tiết ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm tại phiên tòa Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa

Thực hiện thu thập chứng cứ của người bào chữa thông qua quyền Kiểm tra, đánh giá trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan yêu cầu người thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giáđược quy định tại (Điểm i, khoản 1 điều 73). Để đánh giá chứng cứ theo đúng trình tự quy định của pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 108 BLTTHS năm 2015

Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự

Ngoài ra, người bào chữa quyền trình bày nhận xét của mình về vật chứng

Kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa quyền trình bày nhận xét của mình về vật chứng. Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về những vấn đề liên quan đến vật chứng (điều 312), khi vật chứng được đưa ra xem xét tại phiên tòa hoặc đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được. Hoặc quyền nhận xét về báo cáo, tài liệu, kết luận định giá, kết luận giám định của cơ quan, tổ chức về những tình tiết của vụ án do đại diện quan, tổ chức đó trình bày hỏi thêm người đại diện của quan, tổ chức, người khác tham gia phiên tòa về những vấn đề liên quan đến báo cáo, tài liệu đó khi thấy tài liệu, báo cáo đó liên quan đến người bị buộc tội

Thực hiện quyền thu thập chứng cứ thông qua quyền đọc, ghi chép sao chụp tài liệu trong hồ vụ án. Điểm 1, khoản 1 điều 73 quy định người bào chữa quyền: Đọc, ghi chép sao chụp những tài liệu trong hồ ván liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra. Việc tiếp cận các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án điều kiện để người bào chữa tổng hợp các thông tin, tình tiết của vụ án với những thông tin người bào chữa đã thu thập. Tiếp theo đối chiếu, so sánh những chứng cứ người bào chữa đã giao nộp với những chứng cứ của quan, người thẩm quyền THTT đã thu thập. Sau đó, từ những tài liệu, chứng cứ đang trong hồ vụ án đã công khai giúp người bào chữa người bị buộc tội xem xét đánh giá để ý kiến về những chứng cứ đó kịp thời tới Viện kiểm sát. Cuối cùng, người bào chữa kịp thời thu thập những chứng cứ còn thiếu trong những lần thu thập trước chưa hoặc quan, tổ chức, nhân khác chưa cung cấp hoặc người bào chữa chưa thu thập

Thực hiện quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa thông qua quyền: Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa(Điểm m, khoản 1 điều 73). Giai đoạn xét xử được xem giai đoạn cuối của quá trình tố tụng để giải quyết vụ án, thế người bào chữa bằng quyền tham gia hỏi của mình Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi(Khoản 2 Điều 307) để kiểm chứng lại tính xác thực, tính có liên quan của chứng cứ người bào chữa đã thu thập. Đối với các tài liệu kết luận giám định hoặc định giá tài sản người bào chữa thể đề nghị Hội đồng xét xử yêu cầu người giám định, người định giá tài sản trình bày kết luận của mình về vấn đề được giám định, định giá tài sản. người bào chữa quyền nhận xét về kết luận giám định, định giá tài sản, được hỏi những vấn đề chưa hoặc mâu thuẫn trong kết luận giám định, định giá tài sản hoặc mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ án. Ngoài ra, người bào chữa thông qua quyền được hỏi tại phiên tòa người bào chữa thể hỏi những người THTT trong trường hợp bị cáo thay đổi lời khai trước đây CQĐT, VKS do bị ép cung, mớm cung hoặc dùng nhục hình để bị cáo phải khai. Khi tham gia hỏi những người tham gia tố tụng tại phiên tòa còn hội để người bị buộc tội xác thực liên kết lại chuỗi sự kiện hoặc không sự tham gia của họ hay người bào chữa hỏi những vấn đề liên quan tới nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh hay trách nhiệm của người bị buộc tội trong vụ án thì người bị buộc tội hội được trình bày những quan điểm, nhận thức đưa ra do mình thực hiện hành vi

Sau phần hỏi theo trình tự của một phiên tòa đến phần tranh luận (khoản 1, điều 322) sẽ được các bên tranh luận trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ lập luận của mình để đối đáp với kiểm sát viên đại diện cho bên buộc tội cũng thể sẽ đối đáp với người bào chữa đồng nghiệp để bảo vệ chứng cứ, tài liệu quan điểm bào chữa cho bị cáo. Cùng với người bào chữa, bị cáo thể bổ sung hoặc tranh luận với bên buộc tội những người tham gia tố tụng khác.

b. Thu thập chứng cứ của người bào chữa thông qua nhóm quyền theo quy định tại Khoản 2 điều 88 BLTTHS năm 2015: 

– Người bào chữa thu thập chứng cứ thông qua quyền được gặp bị hại theo quy định tại Khoản 2 điều 88). Thông thường những trường hợp gặp bị hại sẽ thay mặt cho người bị buộc tội để tiếp xúc động viên hoặc đàm phán giải quyết vấn đề thuộc trách nhiệm dân sự như bồi thường, khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, tùy từng trường hợp cụ thể người bào chữa thể thu thập chứng cứ liên quan tới việc bào chữa gỡ tội cho người bị buộc tội. Việc gặp bị hại để thu thập chứng cứ gỡ tội đối với một số vụ án hình sự thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí có trường hợp không những không thu thập được chứng cứ bị hại từ chối gặp người bào chữa. Những trường hợp này đòi hỏi người bào chữa phải kỹ năng hành nghề tốt, kiên trì chia sẻ thì sẽ thu thập được chứng cứ rất lợi cho người bị buộc tội

– Người bào chữa thu thập chứng cứ thông qua quyền được gặp người làm chứng những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án (Khoản 2 điều 88). Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì những người làm chứng, người khác biết về vụ án vai trò rất quan trọng trong việc đưa ra lời khai, lời trình bày làm hơn những tình tiết của vụ án. (1) Đối với người làm chứng thì họ những người tham gia tố tụng (khoản 12 điều 55). Từ vai trò quan trọng nhất tính khách quan và tính liên quan của những thông tin, tài liệu, đồ vật. Do người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án được quan thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng (khoản 1 điều 66). thế, người bào chữa xem những người này như một kênh để thu thập chứng cứ giá trị cao để phục vụ cho việc bào chữa, tuy nhiên người bào chữa cũng phải hết sức lưu ý khi tiếp nhận những chứng cứ, thông tin để so sánh, đối chiếu với thông tin do người làm chứng đã cung cấp cho quan thẩm quyền THTT để kịp thời phát hiện những mâu thuẫn (nếu ). (2) Đối với những người khác biết về vụ án cũng một kênh thông tin người bào chữa cần thu thập. Kênh thông tin này khá đa dạng, thể thông tin người đó biết được trực tiếp về vụ án, cũng thể thông tin người đó biết được là gián tiếp do người khác thông tin hoặc kể lại. Để thu thập được chứng cứ từ họ người bào chữa sẽ phải tốn nhiều công sức, thời gian hơn để tìm kiếm, thu thập thông tin về người biết về vụ án. Những chứng cứ thu thập được từ những người này cũng giá trị chứng minh cao phục vụ cho việc bào chữa, mặc nhiều vụ án khi người biết về vụ án không hợp tác với người bào chữa

Thực hiện quyền thu thập chứng cứ thông qua quyền đề nghị quan, tổ chức, nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa

Các quan, tổ chức nhân lưu giữ thông tin liên quan đến vụ án nói chung liên quan đến việc bào chữa nói riêng trong hầu hết các vụ án hình sự. Thứ nhất, đây một kênh để người bào chữa thu thập chứng cứ phục vụ cho việc bào chữa giá trị chứng minh rất cao và thông tin chính xác. Thứ hai, chứng cứ thu thập được từ quan, tổ chức thường được quan thẩm quyền THTT lưu tâm xem xét, đánh giá hơn những chứng cứ thu thập được từ các nhân. Từ đó, người bào chữa sẽ ưu tiên thu thập chứng cứ liên quan đến việc bào chữa từ những quan, tổ chức này sử dụng rất hiệu quả trong công tác bào chữa các giai đoạn tố tụng, đặc biệt tại phiên tòa xét xử. Tuy nhiên, không phải quan, tổ chức nào đều hợp tác cung cấp chứng cứ cho người bào chữa, họ từ chối làm việc, từ chối cung cấp chứng cứ hoặc nhận được đề nghị nhưng không trả lời, không hồi âm với muôn vàn do nhưng trong đó do chính người bào chữa không thể trách cứ được đó họ không nghĩa vụ phải cung cấp cho người bào chữa. Đây một vướng mắc cần phải được sớm tháo gỡ để cho việc bào chữa của người bào chữa ngày một tốt hơn trong hoạt động hành nghề của mình.

1.3. Thực hiện quyền thu thập chứng cứ thông qua hoạt động xem xét tại chỗ, xem xét vật chứng: 

Thứ nhất, hoạt động xem xét tại chỗ: Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử thể cùng với kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa đến nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác liên quan đến ván(điều 314), thông qua hoạt động xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác liên quan đến vụ án người bào chữa hội để thu thập các chứng cứ liên quan đến những tình tiết sẽ sử dụng để tranh tụng với bên buộc tội trước đó không thể thu thập hoặc không điều kiện thu thập. Qua việc xem xét tại chỗ, người bào chữa sẽ thẩm định lại các chứng cứ trong hồ vụ án do quan THTT thu thập với chứng cứ do người bào chữa thu thập. Khi tham gia xem xét tại chỗ nơi xảy ra tội phạm người bào chữa còn thể thu thập được các chứng cứ trước đó quan THTT chưa thu thập hay đã thu thập nhưng còn thiếu, sót, chưa đầy đủ. Ngoài ra, khi tham gia xem xét tại chỗ trực tiếp vật chứng tại nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác liên quan đến vụ án người bào chữa quyền trình bày ý kiến của mình về vật chứng. Hơn nữa, sau khi đã trực tiếp xem xét tại chỗ khi trở lại phiên tòa người bào chữa còn quyền quyền trình bày nhận xét của mình về nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác liên quan đến vụ án

Thứ hai, hoạt động xem xét vật chứng. Vật chứng của vụ án thể vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra xem xét tại phiên tòa nhưng cũng khi các vật chứng đó nếu chỉ tả thông qua hình ảnh biên bản sẽ không thể hiện hết được những khía cạnh hay góc độ quan sát dẫn đến việc đánh giá chứng cứ thể không toàn diện đầy đủ. Chính vậy, Khi cần thiết, Hội đồng xét xử thể cùng kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến tòa được. Như đã được phân tích đoạn thứ nhất trên, việc xem xét tại chỗ vật chứng cho người bào chữa hội được tiếp cận vật chứng từ góc độ bào chữa hoặc thể tìm thấy sự vật khác với hình ảnh đang trong hồ vụ án hay phát hiện thêm được những tình tiết mới liên quan đến việc bào chữa. Mặt khác, làm căn cứ để khi trở lại phiên tòa người bào chữa thực hiện các quyền của mình như: trình bày nhận xét của mình về vật chứng, hỏi thêm những người tham gia phiên tòa về những vấn đề liên quan đến vật chứng.

2. Hình thức thực hiện quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa:

2.1. Tự người bào chữa thu thập chứng cứ: 

Để thực hiện việc bào chữa NBC không chỉ căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu quan THTT đã thu thập được còn phải tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc bào chữa. Nếu như chỉ dựa vào chứng cứ quan THTT thu thập được thì NBC sẽ dễ bị ảnh hưởng của kết quả điều tra, thể không được những tình tiết lợi cho người bị buộc tội hoặc sẽ cái nhìn về vụ án theo hướng kết luật của quan điều tra. vậy, pháp luật TTHS quy định cho NBC các quyền quyền thu thập chứng cứ để NBC được tự mình thực hiện các hoạt động thu thập chứng cứ để phục vụ công việc bào chữa được tốt nhất, đồng thời góp phần làm sự thật khách quan của vụ án. NBC thực hiện quyền thu thập chứng cứ của mình giai đoạn nào trong tiến trình tố tụng giải quyết vụ án thì cũng không tách rời các hình thức thu thập chứng cứ

Hình thức thu thập chứng cứ chủ động 

Để đảm bảo tính chính xác, khách quan của chứng cứ việc thu thập chứng cứ phải thực hiện theo trình tự, thủ tục BLTTHS quy định. Người bào chữa thực hiện việc thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 điều 88 Để thu thập chứng cứ, người bào chữa quyền gặp người mình bào chữa, bị hại, người làm chứng những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị quan, tổ chức, nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa. Qua khảo sát bằng phiếu hỏi dành cho người bào chữa Luật , Trợ giúp viên pháp Người THTT cùng với thu thập từ thực tiễn hoạt động nghề nghiệp của NBC cho người bị buộc tội trong quá trình tố tụng hình sự thì quyền thu thập chứng cứ chủ động đối với người mà mình bào chữa được chia thành hai trường hợp, đó là

+ Thực hiện quyền thu thập chứng cứ chủ động trực tiếp 

++ việc NBC trực tiếp yêu cầu cung cấp chứng cứ đối với người mình bào chữa. Việc thu thập chứng cứ từ người NBC thông thường khá thuận lợi dễ dàng. Dễ dàng thu thập hơn trong trường hợp người bị buộc tội bị can bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi trúthì việc gặp, hỏi, nghe họ trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án như: hành vi phạm tội, vai trò, vị trí của họ trong vụ án v.v ... thu thập chứng cứ hoặc thông qua người bị buộc tội người bào chữa biết được những người làm chứng, những người khác biết về vụ án đang nắm giữ những chứng cứ, đồ vật, tài liệu để kế hoạch phương án thu thập. Tuy nhiên, việc thu thập rất khó khăn không dễ dàng thu thập được chứng cứ nếu người họ bào chữa đang bị tạm giam trong quá trình điều tra ngoài lời khai khi làm việc thì họ không được giữ tài liệu hay chứng cứ nên không thể cung cấp cho người bào chữa. Thông thường các chứng cứ NBC thu thập được trong giai đoạn này sẽ chậmso với quan điều tra nên chủ yếu được sử dụng trong giai đoạn truy tố hoặc xét xử

++ việc NBC chủ động trực tiếp đề nghị quan, tổ chức hoặc nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ, đồ vật, dữ liệu điện tử, những tình tiết làm sáng tỏ vụ án liên quan đến người bị buộc tội mình bào chữa

+ Thực hiện quyền thu thập chứng cứ chủ động gián tiếp 

việc NBC chủ động thực hiện quyền thu thập chứng cứ từ người cần thu thập thông qua việc đề nghị quan điều tra, Viện kiểm sát hay Tòa án thu thập những chứng cứ của vụ án, những chứng cứ này liên quan tới việc gỡ tội cho người bị buộc tội, bị can, bị cáo liên quan tới việc bào chữa của NBC

Thực hiện quyền thu thập chứng cứ không chủ động của người bào chữa 

Ngược với quyền thu thập chứng cứ chủ động thì quyền thu thập chứng cứ không chủ động của NBC thường thấy là do những người khác biết về vụ án chủ động cung cấp cho NBC tại nơi làm việc của người bào chữa hoặc tại phiên tòa việc cung cấp các chứng cứ tại phiên tòa của những người khác biết về vụ án chủ yếu chứng cứ gián tiếp nhưng cũng không ít trường hợp chứng cứ trực tiếp, trường hợp chứng cứ gốc.

2.2. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ: 

Ngoài quyền tự mình thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật pháp luật TTHS còn quy định trường hợp NBC không thể thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa thì NBC thể đề nghị quan thẩm quyền THTT thu thập (khoản 3 Điều 81 BLTTHS năm 2015). Nếu trong trường hợp NBC đã dùng hết các biện pháp để thực hiện quyền thu thập chứng cứ của mình vẫn không thu thập được chứng cứ của quan, tổ chức thì phải nhờ đến sự giúp đỡ thu thập chứng cứ này từ quan thẩm quyền THTT

Đối với việc thu thập chứng cứ, tài liệu từ nước ngoài thì việc đề nghị quan thẩm quyền THTT thu thập biện pháp duy nhất hiệu quả nhất. Do, giá trị pháp của tài liệu, đồ vật thu thập được thông qua hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự giữa nhà nước Việt Nam nhà nước nơi chứng cứ đó được thu thập. Tài liệu, đồ vật do quan thẩm quyền của nước ngoài thu thập theo ủy thác pháp của quan thẩm quyền của Việt Nam hoặc tài liệu, đồ vật do quan thẩm quyền của nước ngoài gửi đến Việt Nam để ủy thác truy cứu trách nhiệm hình sự thể được coi chứng cứ. Trường hợp tài liệu, đồ vật này đặc điểm quy định tại Điều 89 của Bộ luật này thì thể được coi vật chứng (điều 494 BLTTHS năm 2015). dụ, các tài liệu thông qua ủy thác pháp của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị xác minh Công ty Lincoln Asset Management tại Singapore Philipines trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của do Wang Jian Quan Martin quốc tịch Singapore thực hiện

một thực tế hiện nay NBC còn gặp nhiều khó khăn, cản trở khi thu thập chứng cứ từ phía các quan, tổ chức nhà nước. một trở ngại chính NBC không thu thập được từ các quan, tổ chức này đó thiếu quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp chứng cho NBC hoặc bằng một chế tài hình sự như quy định tại điều 383 BLHS năm 2015

3. Cách thức thực hiện quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa 

NBC thể thực hiện quyền thu thập chứng cứ như thế nào? những loại chứng cứ nào? (1) Chứng cứ trực tiếp chứng cứ gián tiếp; (2) Chứng cứ gốc, chứng cứ thuật lại; (3) chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội; (4) Chứng cứ vật chất chứng cứ phi vật chất. Như đã trình bày phần trên, việc thực hiện quyền thu thập chứng cứ của NBC thông qua hoạt động thu thập chứng cứ. 

Cách thực thu thập chứng cứ tại địa phương nơi trú của người bị buộc tội 

Thực tế hiện nay, trong quá trình giải quyết nhiều vụ án hình sự thì NBC chưa thật sự áp dụng những quy định của BLTTHS về quyền thu thập chứng cứ hay ít sử dụng quyền đó thông qua các cách thức thu thập chứng cứ. Sở hiện tượng bỏ quyền này PLTTHS chưa quy định nghĩa vụ buộc phải cung cấp chứng cứ cho NBC. Đối với trường hợp khi thu thập chứng cứ lời trình bày của người làm chứng, người khác biết về vụ án cũng khó khăn rất nhiều NBC áp dụng, thực hiện quyền của NBC tốt đến đâu đi chăng nữa đều phụ thuộc vào những người cần thu thập chứng cứ đồng ý cung cấp hay không. Ngoài ra, cách thức thực hiện quyền của người bào chữa khi đề nghị hoặc yêu cầu UBND /phường, thị trấn phối hợp trong việc thu thập chứng cứ cũng không dễ dàng gì. Tuy nhiên, để sự phối hợp của quan, hợp tác của nhân thì quyền thu thập chứng cứ của NBC vẫn được thực hiện. Dưới đây những cách thức thực hiện quyền thu thập chứng cứ của NBC tại nơi người làm chứng, người biết về vụ án trú

+ Văn bản trình bày ý kiến hay ghi nhận lời khai của người làm chứng phải được lập dưới dạng biên bản sự tham gia hay xác nhận của địa phương Ủy ban nhân dân hoặc phường nơi người đó trú

+ Hình thức ghi hình âm thanh hoặc ghi âm được lập thành văn bản (biên bản) khi sự tham gia hay xác nhận của quan/ hay Ủy ban nhân dân phường nơi người đó trú

Cách thức thu thập chứng cứ tại Văn phòng Thừa phát lại Kể từ khi Thừa phát lại được phép hoạt động đã trở thành một chế định bổ trợ pháp mới hỗ trợ cho các hoạt động của các quan nhân được người dân hội đón nhận. Về lập vi bằng đã đáp ứng yêu cầu ngày càng nhiều của người dân trong đời sống dân sự, giúp người dân bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ. Khi NBC thực hiện việc thu thập chứng cứ cho việc bào chữa từ người làm chứng, người khác biết về vụ án tại Văn phòng thừa phát lại sẽ tiện lợi cho người dân, tâm làm việc thoải mái hơn bớt sự căng thẳng hay tâm Bút sa – gà chết. Mặt khác, ngoài những tiện lợi thoải mái khi làm việc tại Văn phòng thừa phát lại đối với người làm chứng, người khác biết về vụ án thì các văn bản được thu thập thông qua hình thức lập vi bằng cũng sẽ giúp cho các chứng cứ NBC thu thập hay cung cấp được khách quan đúng quy định của pháp luật

Cách thức thu thập chứng cứ tại Phòng công chứng 

Gần như tương tự với cách thức thu thập chứng cứ của NBC tại Văn phòng Thừa phát lại thì việc lựa chọn nơi ghi nhận sự kiện cung cấp chứng cứ của người làm chứng, người khác biết về vụ án hoặc các tài liệu, chứng cứ giấy tờ nhân thân được phòng công chứng chứng thực sẽ giúp cho các tài liệu, chứng cứ này giá trị xem xét, đánh giá sử dụng cao hơn những tài liệu, chứng cứ những người cung cấp tự lập mà không được chứng thực, ghi nhận, xác nhận của quan, tổ chức

Cách thức thu thập chứng cứ tại tổ chức hành nghề Luật / trung tâm trợ giúp pháp lý 

Chứng cứ được thu thập từ người làm chứng, người khác biết về vụ án tại Tổ chức hành nghề luật hay Trung tâm trợ giúp pháp lý thường được sử dụng đối với các vụ án hình sự xảy ra tại các địa phương, nơi người bào chữa thành viên của Tổ chức hành nghề luật hoặc Trung tâm trợ giúp pháp . Việc thu thập các chứng cứ tại Tổ chức hành nghề luật hay/hoặc Trung tâm trợ giúp pháp sẽ thuận lợi thuận tiện nhất cho cả người thu thập người cung cấp chứng cứ

Thu thập chứng cứ từ nước ngoài 

Trường hợp người bị buộc tội người quốc tịch nước ngoài thì việc thu thập chứng cứ gỡ tội từ nước ngoài thì cần phải được hợp pháp hóa lãnh sự hoặc phải được xác nhận của các quan đại diện ngoại giao của Việt Nam nơi nước chứng cứ thu thập. dụ, tài liệu về nhân thân, tài sản của bị cáo nước ngoài được người bào chữa thu thập trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trên địa bàn thành phố Nội do bị cáo Wang Jian Quan Marten thực hiện đều phải được hợp pháp hóa lãnh sự thì mới được tòa án chấp nhận.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư sáng lập, Giám đốc Công ty Luật TNHH Dương Gia.
Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Nguyên Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân Tối cao.
Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại TPHCM.
Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Đà Nẵng.
Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Nguyên Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên.
Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Trưởng chi nhánh Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Miền Trung.
Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại TPHCM.
Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo