Hình phạt của Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

Việc xử phạt nghiêm khắc đối với Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được thể hiện thông qua các quy định về hình phạt áp dụng, bao gồm: Hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn và hình phạt bổ sung.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Nguyên tắc xử lý đối với tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng 

Đối với nhóm các tội phạm về chức vụ nói chung tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nói riêng, nhà nước ta đề ra định hướng, nguyên tắc xử riêng phù hợp với tính chất của loại tội phạm này. Những nguyên tắc xử này được cụ thể hóa tại Nghị quyết 03/2020/NQHĐTP ngày 30/12/2020 HĐTP TAND tối cao như sau

Việc xử tội phạm phải bảo đảm nghiêm khắc tuân thủ triệt để các nguyên tắc của PLHS, pháp luật tố tụng hình sự

Xem xét áp dụng chính sách khoan hồng đặc biệt miễn hình phạt theo quy định tại Điều 59 của BLHS đối với trường hợp người phạm tội ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS hoc người phạm tội lần đầu người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng vai trò không đáng kể nếu thuộc một trong các trường hợp sau

+ Người phạm tội không động vlợi hoặc động nhân khác, chỉ muốn đổi mới, dám đột phá sự nghiệp phát triển kinh tế hội bảo vệ Tổ quốc

+ Người phạm tội người quan hệ lệ thuộc (như cấp dưới đối với cấp trên, người làm ng hưởng lương, chấp hành nhiệm vụ theo chỉ đạo của cấp trên), không ý thức được đầy đhành vi phạm tội của mình, không vì động vụ lợi hoc động nhân khác, không được hưởng lợi; đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với quan thẩm quyền, góp phần hiệu quả vào việc điều tra, xử tội phạm

+ Người phạm tội đã chđộng khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với quan thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do mình gây ra

+ Người phạm tội sau khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chủ động nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, đã khắc phục toàn bộ hậu quả đã bồi thường toàn bthiệt hại do mình gây ra

chủ thể của tội phạm chức vụ nói chung tội thiếu trách nhiệm y hậu qunghiêm trọng nói riêng người chức vụ, quyền hạn, quyền hạn càng lớn thì khnăng gây thiệt hại càng cao. Do đó việc xtội phạm phải luôn đảm bảo tính nghiêm khắc mạnh mđể hạn chế loại tội phạm này. Tuy nhiên, cũng chính chủ thể thực hiện tội phạm người chức vụ người đã sự phấn đấu, cống hiến cho công việc, hơn nữa người phạm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng chỉ thực hiện hành vi phạm tội với lỗi ý, vậy PLHS vẫn chính sách khoan hồng đối với loại tội này: không chỉ được áp dụng chế định miễn hình phạt trong một số trường hợp phạm ti hình phạt nghiêm khắc nhất đối với tội này cũng chỉ hình phạt thời hạn với mức cao nhất 12 năm (không áp dụng hình phạt chung thân thình với tội này)

2. Các hình phạt áp dụng đối với tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng: 

Theo PLHS thì hình phạt biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong BLHS, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó. Đối với tội phạm về chức vụ nói chung tội thiếu trách nhiệm y hậu quả nghiêm trọng nói riêng là những tội phạm nguy hiểm xâm phạm đến hoạt động đúng đắn uy tín của quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của ng dân, vì vậy, chính ch hình sự của Nnước ta đối với các tội phạm này thường rất nghiêm khắc so với các tội phạm khác. Thái độ nghiêm khắc đó được thể hiện thông qua các quy định về hình phạt áp dụng đối với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, bao gồm

2.1. Hình phạt cải tạo không giam giữ: 

Cải tạo không giam giữ hình phạt nghiêm khắc nhất trong số hình phạt chính không phải , nhẹ hơn hình phạt có thời hạn. Khác với hình phạt thời hạn, cải tạo không giam giữ không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi môi trường sống bình thường, nơi trước khi phạm tội họ sống, ng tác vẫn để họ tham gia lao động, học tập và sinh hoạt dưới sự giám sát, giáo dục của quan thẩm quyền

Hình phạt này thể được áp dụng với chủ thể phạm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định ti khoản 1 Điều 360 BLHS

Đó là c trường hợp

Làm chết người 

Tại quy định này mặc nhà làm luật không nói làm chết bao nhiêu người, nhưng mặc định hiểu rằng đây trường hợp do thiếu trách nhiệm nên đã gây ra chết 01 người (bởi nếu chết hơn 01 người sẽ được quy định tại khoản khác). Do đó nếu người hành vi do thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tính mạng của 01 người sẽ bị xử theo khoản 1 Điều 360

Tuy nhiên đối với trường hợp hành vi phạm tội làm chết 01 người 01 người khác bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khỏe thì áp dụng khoản 1 để xử hay không. Câu trả lời . Cho nh vi đó gây thương tích hay tn hại thể của người khác mức độ nào (bao nhu phần trăm) chăng nữa thì nếu đồng thời gây chết 01 người, người đó cũng chỉ phải chịu TNHS theo khoản 1 Điều 360

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tỷ lệ tổn thương thể 61% trlên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên tổng tỷ lệ tổn thương thể của những người này từ 61% đến 121

Đây trường hợp người chức vụ do thiếu trách nhiệm không thực hiện kng thực hiện không đúng nhiệm vđược giao gây hậu quả thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 01 người với tỷ lệ 61%; hoặc cho 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương thể từ 61% đến 121%

đây đặt ra một vấn đề: trong trường hợp hành vi phạm tội gây thiệt hại cho nhiều người (từ 02 người trở lên) thì cần thỏa mãn điều kiện về tỷ lệ tổn thương thể của từng người một không hay kể cả những người chỉ bị tổn thương thể với tỷ lệ 1%, 2 % nhưng tổng tổn thương tỷ lệ của tất cả những người đó từ 61% đến 121% được. Theo quan điểm nhân, tác giả cho rằng với cách hành văn của điều luật đã thể hiện ý định của nhà làm luật: đó không cần biết tỷ lệ tổn | thương của từng người bao nhiêu, miễn sao tổng tỷ lệ tổn thương thể của những người bị gây thiệt hại 61% đến 121% bị truy cứu TNHS thể được xem xét để quyết đnh hình phạt cải tạo không giam giữ đối với hành vi này

Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng 

Nếu hai trường hợp nêu trên là hậu qunh vi thiếu trách nhiệm gây ra đối với con người cụ thể thì trường hợp này hậu quả không chỉ đối với nhân còn hậu quả thiệt hại về tài sản đối với cả quan, tổ chức. Nếu hành vi của người chức vụ do thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với nhiệm vụ được giao gây thiệt hại về tài sản dưi 100.000.000 đồng hoặc trên 500.000.000 đồng thì không bị truy cứu TNHS về tội thiếu trách nhiệm gây hậu qunghiêm trọng quy định tại khoản 1 Điều 360 BLHS

Như vậy, nếu chủ thể phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 của điều luật thì người phạm tội thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ phải đúng quy định tại Điều 36 BLHS về loại hình phạt này

2.2. Hình phạt thời hạn: 

thời hạn loại hình phạt truyền thống được áp dụng phổ biến. Từ thời hạn buc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại sở giam giữ trong một thời hạn nhất định. So với các hình phạt khác như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hình phạt có thời hạn tính nghiêm khắc hơn nhiều hình phạt này buc người bị kết án phải cách ly khỏi hội, cách ly khỏi môi trường sống hoạt động bình thường của họ trước khi bị kết án

Theo quy định tại Điều 360 BLHS thì người phạm tội thể bị phạt từ 06 tháng đến 12 năm. mỗi khoản tại Điều 360 sđược áp dụng những khung hình phạt khác nhau

Đối với những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 360, ngoài hình phạt cải tạo không giam giữ thì người phạm tội thể bị áp dụng hình phạt thời hạn từ 06 tháng đến 05 năm. Đây trường hợp phạm tội nghiêm trọng, các trường hợp áp dụng đã được phân tích trên

Đối với những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 360 thì khung hình phạt đã tăng lên, người phạm tội thể bị phạt từ 03 năm đến 07 năm, chứng tỏ những mức độ nghiêm trọng của hậu quả tính nguy hiểm của hành vi phạm tội nhiều hơn nên hình phạt được quy định nghiêm khắc hơn. Đó các trường hợp

Làm chết 02 người (điểm a khoản 2): trường hợp người chức vụ do thiếu trách nhiệm không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao y thiệt hại đến tính mạng cho 02 người. Tuy nhiên trong thực tiễn trường hợp, tại thời điểm xảy ra thiệt hại thì 01 người chết 01 người bị thương nặng được đưa đi cấp cứu nhưng không qua khỏi (thể người này không qua khỏi trên đường đi cấp cứu, trong khi cấp cứu, sau khi cấp cứu). Vậy trường hợp này sẽ áp dụng khoản 1 hay khoản 2 để truy cứu TNHS

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên tổng tỷ lệ tổn thương thể của những người này từ 122% đến 200% (điểm b khoản 2): Trường hợp này cũng được hiểu tương tự như trường hợp quy định tại điểm c khoản 1, Điều luật không yêu cầu mức độ tổn thương của từng nạn nhân chỉ cần tổng tỷ lệ tổn thương của tất cả nạn nhân 122% đến 200% được

Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng (điểm c khoản 2): trường hợp này, mức độ gây thiệt hại cho nhân, quan, tổ chức đã được nâng lên so với quy định tại khoản 1. đây điều luật cũng không quy định thiệt hại này chỉ dành riêng cho đối tượng nào (cá nhân hay cơ quan hay tổ chức nào), cũng không quy định mức thiệt hại đối với mỗi đối tượng, hay quy định mức thiệt hại này tính chung tổng thiệt hại gây ra cho mọi đối tượng bị thiệt hại bởi hành vi phạm tội. Về quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng điều luật quy định khái quát như vậy để chủ thể áp dụng thể linh hoạt trong việc xem xét mức độ thiệt hại trong thực tiễn, thể nhiều đối tượng bị thiệt hại miễn sao tổng thiệt hại được định giá, xác định bởi quan thẩm quyền là 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 thì bị truy cứu TNHS theo điểm này

Tại 03 trường hợp trên, không xét về các yếu tố khác (tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS) thì hình phạt được áp dụng từ 03 năm đến 07 năm trường hợp phạm tội nghiêm trọng nhưng mức độ nghiêm trọng cao hơn trường hợp quy định tại khoản 1, đồng thời vn chưa đến mức rất nghiêm trọng

Trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng được quy định những hành vi thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 360 và bị áp dụng hình phạt từ 07 năm đến 12 năm. Những trường hợp này cụ thể

Làm chết 03 người trở lên (điểm a khoản 3): Điều luật không giới hạn số lượng người chết ntại khoản 1 khoản 2 chỉ đưa ra định mức tối thiểu là 03 người. Do đó đối với những trường hợp làm chết 05 người hay 50 người đều bị xử theo điểm này

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên tổng tỷ lệ tổn thương thể của những người này từ 201% trở lên (điểm b khoản 3). Tương tự như trường hợp trên, điều luật không quy định một khoảng nhất định chỉ quy định mức thấp nhất, những trường hợp gây tổn hại tỷ lệ tổn hại thể cho 03 người trở lên không cần biết tổng tỷ lệ tổn thương thể của họ là bao nhiêu thì đều bị xử theo điểm này

Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên (điểm c khon 3). Cùng với cách quy định của hai điểm trên, tại điểm c cũng lựa chọn cách dự liệu các trường hợp còn lại bằng cách quy đnh mức tối thiểu của thiệt hại. Bất kể thiệt hại cho ai, thiệt hại như thế nào miễn sao lớn hơn hoặc bằng 1.500.000.000 đồng đều bị xử theo điểm này

Có thể thấy đi với những trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 360 thì hình phạt được quy định nghiêm khắc nhất: từ 07 năm đến 12 năm thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Mức độ gây thiệt hại của hành vi phạm tội thiệt hại quá lớn, do 

đó cả 03 trường hợp tại khoản này đều được quy định theo hướng: quy định mức tối | thiểu để bao quát tất cả những trường hợp còn lại nguy hiểm hơn những trường hợp đã được quy định thì bị xử theo khoản này. Cách quy định như vậy giúp dự liệu mọi tình huống tồi tệ hơn thể phát sinh, tránh việc quy định vụn vặt phải chia nhiều khoáng, nhiều trường hợp vn không bao quát hết tất cả mọi trường hợp. cho thiệt hại trên thực tế lớn thế nào, bị áp dụng nhiều tình tiết tặng nặng TNHS thì hình phạt cao nhất đối với hành vi Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 360 BLHS cũng chỉ là 12 năm (trừ trường hợp tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 56 BLHS)

2.3. Hình phạt bổ sung: 

Đối với tội thiếu trách nhiệm y hậu quả nghiêm trọng, do tính chất đặc thù của tội phạm hành vi do người chức vụ thực hiện – tức chủ thể đó luôn gắn bản thân với một chức vụ, công việc, nghề nghiệp nht định, do đó để nâng cao tính răn đe cũng như hiệu quả phòng ngừa tội phạm, luật nh sự đã quy định thêm hình phạt bổ sung phù hợp với tính chất của loại tội này đó hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm

Đây hình phạt bổ sung được áp dụng kèm theo hình phạt chính với nội dung không cho phép hđảm nhiệm chức vụ, làm nghhoặc công việc nhất định sau khi chấp hành xong hình phạt chính nhằm mục đích củng cố, tăng cường hiệu quả của hình phạt chính cũng như để ngăn ngừa họ hội tiếp tục phạm tội

Đặc biệt, tại khoản 4 Điều 360 quy định rằng người phạm tội còn bịáp dụng chứ không phải thểbị áp dụng, tức hình phạt bổ sung hình phạt bắt buộc đối với người phạm tội chứ không phải hình phạt tùy nghi n khi tuyên án Tòa án nhất thiết phải áp dụng hình phạt này. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt thì Tòa án phải nếu cụ thể đối với hình phạt đó: nếu áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ thì phải nói cấm đảm nhiệm chức vụ ; cấm hành nghề cấm hành nghề ; cấm làm công việc nhất đnh cấm làm công việc , cấm trong thời hạn bao lâu, tính từ ngày nào chứ không được tuyển chung chung như điều luật đã quy định

3. Lưu ý trong việc áp dụng hình phạt đối với tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng: 

Khi áp dụng hình phạt đối với hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy đnh tại Điều 360 BLHS, tòa án phải căn cứ vào Điều 50 BLHS. Về nguyên tắc, nếu các tình tiết khác của vụ án như nhau, người phạm tội thuộc nhiều trường hợp quy định tại 1 khoản của điều luật sẽ bị áp dụng mức hình phạt nặng hơn người chỉ thuộc 01 trường hợp quy định tại khoản đó. VD: người phạm tội vừa gây hậu quả làm chết mt người, vừa gây thiệt hại về tài sản là 200.000.000 đồng thì mức hình phạt được quy định tại khoản 1 sẽ cao hơn so với người phạm tội chỉ gây hậu quả chết 01 người. Do đó điều luật quy định một khoảng trong hình phạt (từ bao nhiêu năm đến bao nhiêu m) để Tòa án xem xét mức độ thiệt hại của nh vi phạm tội để quyết định hình phạt tương ứng. Kng thmột hành vi thuộc 01 trường hợp (không áp dụng tình tiết tăng nặng, không tổng hợp hình phạt) bị áp dng mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại điều khoản đó. Như vậy không hợp và không thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật

tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng được thực hiện với lỗi ý, do đó đường lối xử cũng theo hướng khoan hồng hơn so với những tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Cho dù hậu qucủa hành vi thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản của nhân, quan, tổ chức thì người phạm tội cũng chưa chắc bị áp dụng hình phạt . Nếu người phạm tội tình tiết giảm nhẹ, không tình tiết tăng nặng, nhân thân tốt, nơi trú ràng thể được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Việc không cách ly người phạm tội khỏi xã hội là chính sách nhân đạo, không chỉ giúp người phạm tội nhận ra sai lầm của bản thân còn cảm hóa họ, giúp họ thêm hội để sửa sai, tái hòa nhập một ch dễ dàng

Còn đối với hình phạt thời hạn được áp dụng đối với tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, đương nhiên việc áp dụng hình pht thời hạn mục đích giáo dục, cải tạo người phm tội thực hiện mục đích răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, hình phạt này chỉ được áp dụng trong các trường hợp khi xét thấy cần thiết phải cách ly người phạm ti khỏi hội trong một thời gian nhất định (việc giữ họ ở trong cộng đồng không phù hợp với mức độ nguy hiểm của hành vi không thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật), khung hình phạt của điều luật về tội phạm người đó đã thực hiện hình phạt này điều này đương nhiên được đảm bảo do các trường hợp quy định tại 3 khoản của điu luật đều quy định hình phạt thời hạn

Ngoài ra cũng cần lưu ý rằng, không phải trong mọi trường hợp phạm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng thì chủ thể thực hiện sẽ chỉ bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc thời hạn, phụ thuộc o nhiều yếu tố khác vẫn thể áp dụng những chế định khác liên quan đến TNHS hình phạt trong việc xử loại tội này

Nếu trong trường hợp không đủ điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ người phạm tội nhiều tình tiết giảm nhẹ không đến mức bị phạt 06 tháng thì Tòa án thể cho người phm tội được hưởng án treo (theo quy định tại Điều 65 BLHS) hoặc áp dụng hình phạt cho người phạm tội dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (dưới 06 án tháng ) (theo quy định ti Điều 54 BLHS), nhưng không được dưới 03 tháng (vì theo quy định khoản 1 Điều 38 BLHS thì hình phạt thời hạn tối thiểu 03 tháng)

Đối với những hành vi phạm ti thiếu trách nhiệm y hậu quả nghiêm trọng xảy ra vào thời điểm BLHS m 1999 hiệu lực thi hành được quy định tại Điều 285 nhưng lại bị phát hiện, xử tại thời điểm BLHS 1999 đã hết hiệu lực thì đường lối xử đối với những hành vi này được quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành BLHS số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 như sau

c điều khoản của BLHS năm 2015 xóa bmột tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn TNHS, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích các quy định khác lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đi với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 sau thời điểm đó mới bị phát hin, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với ngưi đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích. Đây cũng quy định mang tính nhân đạo của PLHS Việt Nam khi luôn đảm bảo nguyên tắc: áp dụng tình tiết lợi cho người phm ti

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo