Theo quy định của pháp luật hiện nay, người lao động đang trong thời hạn làm việc theo hợp đồng lao động với người sử dụng lao động mà có lệnh gọi nhập ngũ, thì đây là trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.
Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: luatsu@luatduonggia.vn
1. Đi nghĩa vụ quân sự có được tạm hoãn hợp đồng lao động không?
Căn cứ theo quy định tại Điều 30 của Bộ luật lao động năm 2019 có quy định về tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Theo đó, các trường hợp tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động bao gồm các trường hợp sau đây:
– Người lao động thực hiện nghĩa vụ quân sự, người lao động thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ;
– Người lao động bị tạm giữ, người lao động bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự theo bản án hoặc quyết định có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền;
– Người lao động phải chấp hành quyết định áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào các cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào các cơ sở giáo dục bắt buộc;
– Lao động nữ mang thai căn cứ theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật lao động năm 2019;
– Người lao động được bổ nhiệm vào giữ vị trí quản lý doanh nghiệp của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cơ quan nhà nước có thẩm quyền nắm giữ 100% vốn điều lệ;
– Người lao động được ủy quyền để thực hiện quyền hạn và trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp;
– Người lao động được ủy quyền để thực hiện trách nhiệm và quyền hạn của doanh nghiệp đối với phần vốn của doanh nghiệp đầu tư tại các doanh nghiệp khác;
– Các trường hợp do hai bên tự thỏa thuận.
Như vậy có thể nói, người lao động thực hiện nghĩa vụ quân sự sẽ là một trong những căn cứ được tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Vì vậy khi nhận được giấy báo nhập ngũ của ban chỉ huy quân sự để tham gia nghĩa vụ quân sự, người sử dụng lao động sẽ không được phép chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động, trong trường hợp này thì người sử dụng lao động sẽ phải ra quyết định tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động đối với người lao động. Hay nói cách khác, đi nghĩa vụ quân sự sẽ được tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.
2. Thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động đi nghĩa vụ quân sự có được tính vào thời hạn của hợp đồng lao động không?
Căn cứ theo quy định tại Điều 31 của Bộ luật lao động năm 2019 có quy định về vấn đề nhận lại người lao động khi hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Theo đó, trong thời hạn mười lăm ngày làm việc được tính kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động sẽ phải có mặt tại nơi làm việc, người sử dụng lao động trong trường hợp này sẽ phải có nghĩa vụ nhận người lao động trở lại làm các công việc phù hợp với hợp đồng lao động mà các bên đã giao kết trước gió vậy nếu như hợp đồng lao động vẫn còn thời hạn, trường hợp người lao động và người sử dụng lao động có thỏa thuận khác hoặc pháp luật liên quan có quy định khác.
Như vậy có thể nói, theo điều luật phân tích nêu trên thì có thể hiểu rằng, thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động đồng thời được tính vào thời hạn của hợp đồng lao động đó. Nếu tại thời điểm người lao động trở lại làm việc mà thời hạn của hợp đồng lao động đã hết, thì hợp đồng lao động đó sẽ chấm dứt trên thực tế, ngoại trừ trường hợp người lao động và người sử dụng lao động có thỏa thuận khác.
3. Xử phạt hành vi không nhận người lao động lại làm việc sau thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động đi nghĩa vụ quân sự:
Căn cứ theo quy định tại Điều 11 của Nghị định 12/2022/NĐ-CP của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có quy định về mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về vấn đề thực hiện hợp đồng lao động. Cụ thể như sau:
– Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có hành vi tạm thời điều chuyển người lao động làm công việc khác so với công việc được quy định trong hợp đồng lao động tuy nhiên không thông báo trước cho người lao động trong khoảng thời hạn trước 03 ngày làm việc, hoặc không thông báo, hoặc thông báo không rõ thời hạn làm tạm thời, hoặc có hành vi bố trí công việc không phù hợp với sức khỏe và giới tính của người lao động;
– Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi thực hiện một trong những hành vi vi phạm quy định của pháp luật như sau:
+ Bố trí người lao động làm việc và các địa điểm khác so với địa điểm làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động, trừ trường hợp được quy định tại Điều 29 của Bộ luật lao động năm 2019;
+ Không nhận người lao động trở lại làm việc sau khi đã hết thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động trong trường hợp hợp đồng lao động đó vẫn còn thời hạn, trừ trường hợp người lao động và người sử dụng lao động có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác;
+ Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động không có lý do chính đáng, thời hạn hoặc không có văn bản đồng ý của người lao động theo quy định của pháp luật.
– Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với các đối tượng có hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
– Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động thực hiện một trong những hành vi sau đây:
+ Cưỡng bức lao động hoặc ngược đãi lao động nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
+ Bắt buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động.
Như vậy có thể nói, hành vi không nhận người lao động trở lại làm việc sau thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động khi đi nghĩa vụ quân sự của người lao động sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng theo như phân tích nêu trên.
4. Hoàn thành nghĩa vụ quân sự nhưng không quay về nơi làm việc thì có bị chấm dứt hợp đồng lao động không?
Căn cứ theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật lao động năm 2019 có quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động. Theo đó, người sử dụng lao động sẽ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong một số trường hợp cơ bản sau đây:
– Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo thỏa thuận của các bên được quy định trong hợp đồng lao động, việc không hoàn thành công việc được xác định theo tiêu chí đánh giá phù hợp với mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành, tuy nhiên cần phải thực hiện hoạt động tham khảo ý kiến của các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có thành lập tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;
– Người lao động bị ốm, người lao động bị tai nạn đã điều trị trong khoảng thời gian 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hoặc người lao động đã có thời gian điều trị trong khoảng thời hạn 06 tháng liên tục trong trường hợp người lao động đó làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời gian từ 12 tháng đến 36 tháng; hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời gian dưới 12 tháng, mà khả năng lao động chưa được phục hồi. Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động có thể xem xét để tiếp tục thực hiện hoạt động giao kết hợp đồng lao động với người lao động đó;
– Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, do sự kiện di dời, thu hẹp sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục khác nhau tuy nhiên vẫn bắt buộc phải giảm chỗ làm việc;
– Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn được quy định tại Điều 31 của Bộ luật lao động năm 2019;
– Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu căn cứ theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật lao động năm 2019, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
– Người lao động có hành vi tự tiện bỏ việc mà không có lý do chính đáng và không được sự đồng ý của người sử dụng lao động trong khoảng thời gian 05 ngày làm việc liên tục trở lên;
– Người lao động cung cấp không trung thực đối với các thông tin căn cứ theo quy định tại Điều 16 của Bộ luật lao động năm 2019 trong quá trình giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến quá trình tuyển dụng của người sử dụng lao động.
Như vậy có thể nói, sau thời hạn 15 ngày, người lao động không quay lại làm việc sau khi đã hoàn thành xong nghĩa vụ quân sự, người sử dụng lao động hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trừ trường hợp giữa người lao động và người sử dụng lao động có thể thuận khác.
Các văn bản pháp luật được sử dụng trong bài viết:
– Bộ luật Lao động năm 2019;
– Nghị định 12/2022/NĐ-CP của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
