Tội cướp tài sản không những gây ra hoang mang và lo lắng cho người dân, mà còn gây thiệt hại lớn về tính mạng và sức khỏe của người khác. Vậy cướp tài sản nhưng làm chết người thì sẽ bị xử lý như thế nào?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.
Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.
Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: luatsu@luatduonggia.vn
1. Cướp tài sản nhưng làm chết người thì bị xử lý thế nào?
Một trong những tình tiết định khung tăng nặng của tội cướp tài sản đó là tình tiết “làm chết người”. Đây là một trong những tình tiết định khung tăng nặng thứ ba. Khung hình phạt tăng nặng thứ 03 của tội cướp tài sản được quy định tại khoản 4 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015 với mức hình phạt tù từ 18 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân, và được áp dụng đối với một số trường hợp nhất định, trong đó có tình tiết làm chết người. Làm chết người là trường hợp thực hiện hành vi cướp tài sản, người phạm tội đã tấn công người bị hại hoặc người khác để chiếm đoạt tài sản hoặc để tẩu thoát và đã gây cái chết cho họ. Lỗi trong trường hợp này là lỗi vô ý bởi lẽ người phạm tội biết hành vi tấn công người khác để chiếm đoạt tài sản hoặc tẩu thoát là nguy hiểm nhưng người phạm tội không mong muốn hậu quả chết người xảy ra, ví dụ như tấn công bị hại để tẩu thoát, người bị hại đuổi theo không may bị tai nạn giao thông chết. Nếu cố ý gây ra cái chết cho người bị hại trong khi thực hiện hành vi cướp tài sản thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản và tội giết người.
Nhìn chung thì có thể nói, mặt khách quan của tội cướp tài sản được thể hiện ở hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây nguy hiểm và hậu quả, phương tiện, công cụ, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội.
Ví dụ: Khoảng 14h00 giờ ngày 25/01/2018, T chở chị H đến Ngân hàng rút 200.000.000 đồng. Do đang nợ tiền, T nảy sinh ý định cướp tài sản để trả nợ nên đã dùng dao đe dọa P, dùng băng keo bịt miệng và trói hai tay chị P lại rồi chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng, đóng cửa xe nhất chị P bên trong xe rồi bỏ đi. Chị P kêu cứu và được người dân phát hiện, giải cứu và đến trình báo cơ quan công an.
Trường hợp có nhiều người cùng tham gia cướp tài sản (đồng phạm), không nhất thiết tất cả những người tham gia đó đều phải dùng vũ lực, mà chỉ cần một hoặc một số người dùng vũ lực, còn những người khác có thể không dùng vũ lực hoặc chỉ đe doạ dùng vũ lực nhưng tất cả những người cùng tham gia đều bị coi là dùng vũ lực. Bên cạnh đó, về hậu quả của tội phạm, đối với tội cướp tài sản, hậu quả có xảy ra hay không, giá trị tài sản ít hay nhiều không làm ảnh hưởng đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội mà là dấu hiệu định khung hình phạt hoặc chỉ là tình tiết để xem xét khi quyết định hình phạt. Do tội cướp tài sản là tội phạm có cấu thành hình thức, vì vậy tội cướp tài sản được xem là hoàn thành khi người phạm tội có một trong những hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể kháng cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, bất kể người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa, giá trị tài sản ít hay nhiều.
Ví dụ: A không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 05 giờ ngày 18/3/2019, A đang đi lang thang thì nhìn thấy 01 chiếc xe ô tô taxi không đóng cửa nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, A lấy một con dao kể vào cổ ông H đang ngồi trong xe và nói “xuống xe” thì bất ngờ bị ông H gạt mạnh tay cầm dao và đánh vào mặt của A làm A ngã xuống đất rơi dao. Ông H đóng cửa xe lại rồi điều khiển xe ô tô bỏ chạy, A dùng tay phải nắm vào tay nắm phía bên ngoài cửa phía trước bên trái xe ô tô và đu theo, chạy được khoảng 20 mét thì A bị ngã và bị quần chúng nhân dân bắt giữ.
Theo đó thì có thể nói, thực hiện hành vi thỏa mãn cấu thành của tội cướp tài sản, tuy nhiên gây ra hậu quả làm chết người thì sẽ bị định tội cướp tài sản với khung hình phạt tăng nặng tại khoản 4 Điều 168 của Bộ luật hình sự năm 2015, với mức phạt tù từ 18 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.
2. Cướp tài sản sau đó giết người che giấu tội phạm thì bị truy cứu thế nào?
Trên thực tế, có rất nhiều người thực hiện hành vi cướp tài sản, sau đó cố tình ra tay giết người để thực hiện hành vi che giấu tội phạm của mình. Với trường hợp này thì sẽ bị coi là cấu thành đồng thời 02 tội phạm, tội cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 và tội giết người theo Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đồng thời, trong trường hợp này sẽ cần phải áp dụng quy định của pháp luật về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Căn cứ theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 có quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Theo đó, trong quá trình xét xử cùng một lần một người về nhiều tội phạm khác nhau, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó là tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tiến hành hoạt động tổng hợp hình phạt theo quy định của pháp luật như sau:
– Đối với hình phạt chính;
+ Nếu các hình phạt đã tuyên bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng được xác định là cải tạo không gian giữ hoặc cùng là hình phạt tù có thời hạn, thì các hình phạt đó sẽ được cộng lại với nhau trở thành hình phạt chung, hình phạt chung theo quy định của pháp luật sẽ không được phép vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ và không được phép vượt quá 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn;
+ Nếu các hình phạt đã tuyên bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền được xác định là hình phạt cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ sẽ được thực hiện hoạt động chuyển đổi trở thành hình phạt tù có thời hạn theo tỷ lệ: cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ thì sẽ được chuyển đổi thành 01 ngày tù có thời hạn, sau đó tiếp tục tổng hợp hình phạt chung;
+ Nếu hình phạt nặng nhất trong tất cả các hình phạt đã tuyên bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền được xác định là tù chung thân thì hình phạt chung cũng là tù chung thân;
+ Phạt tiền sẽ không được phép tổng hợp với các hình phạt còn lại, các khoản phạt tiền sẽ được cộng lại với nhau trở thành hình phạt chung;
+ Trục xuất sẽ không được phép tổng hợp với các hình phạt còn lại.
– Đối với hình phạt bổ sung:
+ Nếu các hình phạt đã tuyên bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền được xác định là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do bộ luật hình sự này quy định đối với hình phạt đó phải riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản phạt tiền sẽ được cộng lại với nhau để trở thành hình phạt chung;
+ Nếu các hình phạt đã tuyên bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền là khác loại thì người bị kết án sẽ phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên đối với hình phạt bổ sung đó.
Theo đó thì có thể nói, trong trường hợp người cướp tài sản, tiếp sau đó thực hiện hành vi giết người để che giấu đối với hành vi cướp tài sản của mình, thì tòa án sẽ tuyên bố đối với hình phạt của từng tội nhất định, sau đó tổng hợp hình phạt của tội cướp tài sản và tội giết người lại với nhau theo nguyên tắc nêu trên.
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng của Bộ luật hình sự đối với tội cướp tài sản:
Có thể kể đến một số giải pháp như sau:
– Tăng cường phổ biến giáo dục kiến thức pháp luật cho người dân nhằm mục đích nâng cao ý thức tự bảo quản tài sản, nhận thức được những hành vi và thủ đoạn của tội cướp tài sản;
– Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và năng lực của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
– Tiếp tục xây dựng quy mô và mô hình tố tụng phải hoàn thiện thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng kế thừa những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn và có sự tiếp thu chọn lọc đối với những tiến bộ của mô hình tranh tụng, đảm bảo đồng thời tính công khai và dân chủ, minh bạch và tôn trọng, bảo vệ quyền con người;
– Siết chặt quản lý kỷ cương, tăng cường kiểm tra thanh tra nội bộ phát huy có hiệu quả cơ chế kiểm tra và giám sát từ bên ngoài đối với hoạt động tư pháp;
– Nếu phát hiện có hành vi vi phạm phải xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm đó.
Các văn bản pháp luật được sử dụng trong bài viết:
– Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi 2017).
