Căn cứ quyết định hình phạt tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 

Các căn cứ quyết định hình phạt có vai trò quan trọng trong việc quyết định hình phạt của Tòa án. Hầu hết các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đều có chung nhận thức, căn cứ vào quy định của BLHS là căn cứ có tính chất căn bản, tiền đề bảo đảm cho việc quyết định hình phạt đúng đắn.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Căn cứ quyết định hình phạt là gì:

Đến nay, khoa học luật hình sự vẫn chưa một khái niệm thống nhất về căn cứ quyết định hình phạt. Hiện các quan điểm đưa ra khái niệm về căn cứ quyết định hình phạt như sau

Theo PGS.TS. Dương Tuyết Miên thì căn cứ quyết định hình phạt bao gồm những nội dung bản như sau

Các căn cứ quyết định hình phạt những sở pháp được quy định trong Bộ luật hình sự Tòa án buộc phải tuân thủ khi quyết định hình phạt đối với nhân/pháp nhân thương mại phạm tội nhằm đảm bảo hình phạt đã tuyên đạt được mục đích của hình phạt. Bên cạnh đó, theo tác giả Trần Văn Sơn thì

Các căn cứ quyết định hình phạt những yêu cầu đòi hỏi có tính bắt buộc do luật hình sự quy định Tòa án phải tuân thủ khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội

Việc quy định các căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội trong BLHS ý nghĩa quan trọng, là cơ sở pháp để dựa vào đó, Tòa án thể quyết định hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội, khắc phục, hạn chế tình trạng tùy tiện, thiếu thống nhất trong quyết định hình phạt. vậy, khi quyết định loại hình phạt mức hình phạt cụ thể, Tòa án cần phải xem xét, cân nhắc, đánh giá các căn cứ quyết định hình phạt một cách đầy đủ, toàn diện biện chứng. Giữa các căn cứ quyết định hình phạt mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau luôn thể hiện trong một thể thống nhất. Tòa án cần phải nắm chắc nội dung, ý nghĩa pháp của từng căn cứ tính nguyên tắc đó, cũng như mối liên hệ giữa chúng khi quyết định hình phạt. Điều 50 BLHS đã quy định cụ thể Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ tăng nặng trách nhiệm hình sự.” 

Các căn cứ quyết định hình phạt đều vai trò quan trọng trong việc quyết định hình phạt của Tòa án. Tuy nhiên, phần lớn các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đều chung nhận thức, căn cứ vào quy định của BLHS căn cứ tính chất căn bản, tiền đề bảo đảm cho việc quyết định hình phạt được đúng đắn. 

Các căn cứ quyết định hình phạt cụ thể bao gồm

2. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự: 

Đây căn cứ bản nhất của quyết định hình phạt cũng đòi hỏi quan trọng của nguyên tắc pháp chế XHCN. Khi quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt, trước tiên Tòa án phải căn cứ vào các quy định của Phần chung BLHS, đó : sở của TNHS (Điều 2), nguyên tắc xử (Điều 3), hiệu lực về thời gian của BLHS (Điều 7), chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (các Điều 14, 15, 57), đồng phạm (Điều 17, 58), các quy định về quyết định hình phạt trong chương VIII (Điều 50 đến Điều 59). Những quy định tính nguyên tắc chung cho từng loại hình phạt trong chương VI (Điều 30 đến Điều 45) như: Những quy định về hệ thống hình phạt, những quy định về nội dung, điều kiện phạm vi áp dụng của các hình phạt chính hình phạt bổ sung đối với nhân người phạm tội. Những quy định có tính nguyên tắc chung đối với những trường hợp được áp dụng các biện pháp như: Miễn TNHS (Điều 29), miễn hình phạt (Điều 59), án treo (Điều 65). Những quy định chương XII Phần chung của BLHS tính nguyên tắc chung cho việc quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi

Sau đó, Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định từ Điều 168 đến Điều 175 của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt để xác định hành vi phạm tội tội phạm cụ thể nào trong nhóm tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt? Tội phạm đó đã vi phạm điểm, khoản cụ thể nào hình phạt được các nhà làm luật quy định cụ thể áp dụng cho tội phạm đó ra sao

Theo Điều 50 BLHS, căn cứ vào quy định của BLHScăn cứ quyết định hình phạt đầu tiên. Điều này cho thấy các nhà lập pháp đã nhận thức đánh giá cao vai trò quan trọng của căn cứ quy định của BLHS. Chính sự ghi nhận trong BLHS tính bắt buộc đối với Tòa án khi quyết định hình phạt đã tránh được tình trạng tùy tiện, áp dụng một hình phạt không tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với các bị cáo. Hơn nữa, sự ghi nhận căn cứ này trong BLHS còn tạo cơ sở pháp giúp cho việc quyết định hình phạt được chính xác thống nhất trên phạm vi toàn quốc

3. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: 

Để thể quyết định được loại mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật cho phép, Tòa án phải cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội. Tính chất nguy hiểm cho hội của tội phạm đặc tính về chất của tội phạm cho phép phân biệt tội phạm các chương khác nhau trong phần các tội phạm của BLHS. Mức độ nguy hiểm cho hội của tội phạm đặc tính về lượng của mỗi tội phạm cụ thể, cho phép phân biệt mức độ nguy hiểm cho hội giữa các tội phạm trong cùng nhóm hoặc đối với một tội phạm nhưng trong những trường hợp phạm tội khác nhau. cùng đặc tính về chất, tính chất nguy hiểm cho hội của mỗi tội phạm thể được thể hiện những mức độ khác nhau, cho nên tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của tội phạm không tách rời nhau. vậy, khi quyết định hình phạt, BLHS quy định bắt buộc Tòa án phải cân nhắc đồng thời cả tính chất lẫn mức độ nguy hiểm cho hội của tội phạm đã thực hiện

Tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội trong các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt chính mức độ thiệt hại về tài sản. Hành vi phạm tội gây ra mức độ thiệt hại về tài sản càng lớn thì tội phạm càng nặng hình phạt cũng càng cao. Ngược lại, hành vi phạm tội gây thiệt hại về tài sản càng nhỏ thì tội phạm càng nhẹ hình phạt càng nhẹ. Tuy nhiên, cần lưu ý với các tội xâm hại đồng thời hai quan hệ hội được luật hình sự bảo vệ, đó quan hệ nhân thân quan hệ sở hữu, dụ: tội cướp tài sản, cướp giật tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Bằng hành vi phạm tội của mình, người phạm tội trước hết xâm phạm đến thân thể, đến tự do của con người để qua đó thể xâm phạm được sở hữu. Sự xâm hại một trong hai quan hệ hội này đều chưa thể hiện được hết bản chất nguy hiểm cho hội của hành vi. Do vậy, cả hai quan hệ hội bị xâm hại đều được coi khách thể trực tiếp của tội phạm. Việc xếp các tội trên vào nhóm các tội xâm phạm sở hữu xuất phát từ quan điểm cho rằng mục đích chính của người phạm tội nhằm vào sở hữu việc xâm hại quan hệ nhân thân chỉ là phương tiện để đạt được mục đích chính đó. Do vậy, khi xem xét tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi thì ngoài việc xem xét đến mức độ thiệt hại về tài sản thì Tòa án cần xem xét đến hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của bị hại

Trong thực tiễn xét xử, khi quyết định hình phạt thì căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tộicăn cứ rất quan trọng. Sự quan trọng này thể hiện chỗ, nếu như dựa vào căn cứ thứ nhất quy định của BLHS, Tòa án mới chỉ xác định được phạm vi hình phạt áp dụng cho người phạm tội, còn dựa vào căn cứ thứ hai tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội, Tòa án thể lựa chọn hình phạt cụ thể phù hợp để áp dụng cho người phạm tội. Tuy nhiên, đặt trong mối liên hệ giữa hai căn cứ thì căn cứ thứ nhất sở, tiền đề cho căn cứ thứ hai đó lựa chọn được một hình phạt cụ thể cho bị cáo trong phạm vi khung hình phạt đó

Trong quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt, dựa vào quy định của BLHS Tòa án thể xác định được hành vi phạm tội của một chủ thể nào đó đã phạm tội ? Tội phạm đó cấu thành điểm, khoản nào của điều luật tương ứng chế tài hình phạt được quy định giới hạn nào? Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào quy định của BLHS không xem xét tính chất, mức độ chiếm đoạt hoặc gây thiệt hại về tài sản của hành vi phạm tội thì Tòa án sẽ không thể quyết định được một hình phạt chính xác phù hợp đối với người hành vi phạm tội. dụ: Nguyễn Văn A không nghề nghiệp, công việc chuyến đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để làm nghề sinh sống lấy kết quả của lần phạm tội làm nguồn sống chính. Ngày 10/3/2021 Nguyễn Văn A hành vi lén lút vào nhà chị Thị T trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động Iphone 3 giá trị 3.000.000 đồng. Ngày 15/3/2021 Nguyễn Văn A lại tiếp tục hành vi lén lút vào nhà ông Cao Văn Đ trộm cắp số tiền 2.000.000 đồng. Ngày 18/3/2021, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe đạp mini tại nhà anh Nguyễn Văn T trị giá 2.500.000 đồng. Ngày 20/3/2021, Nguyễn Văn A trà trộn vào đám đông móc túi của người đi đường trộm cắp số tiền 2.000.000 đồng của chị Lê Thị L, tiếp tục móc túi của anh Văn N được 2.630.000 thì bị phát hiện bắt giữ. Trong dụ này căn cứ vào quy định của BLHS thể dễ dàng xác định hành vi của Nguyễn Văn A đã phạm tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 BLHS. Tuy nhiên, khi căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho hội ta thấy giá trị tài sản bị chiếm đoạt 12.130.000 đồng, căn cứ vào hướng dẫn tại khoản 5 Nghị quyết số 01/2006/NQHĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi của Nguyễn Văn A tính chất chuyên nghiệp; từ đó xác định chính xác Nguyễn Văn A đã vi phạm điểm b khoản 2 Điều 173 BLHS hình phạt được áp dụng nằm trong khung từ 03 năm đến 07 năm . Trên sở đó kết hợp với các quy định khác về quyết định hình phạt, các nguyên tắc quyết định hình phạt Tòa án sẽ quyết định chính xác mức hình phạt đối với Nguyễn Văn A

Thực tiễn xét xử cho thấy, khi cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của tội phạm đã thực hiện, Tòa án thường xem xét các dấu hiệu sau: Quan hệ hội bị hành vi phạm tội xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại; Hành vi khách quan nguy hiểm cho hội đã thực hiện; Hậu quả thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra; Mức độ thực hiện tội phạm như chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tội phạm hoàn thành; Công cụ phương tiện phạm tội, thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh thực hiện tội phạm; Lỗi nguyên nhân, điều kiện phạm tội ... thể khẳng định căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tộicăn cứ rất quan trọng khi quyết định hình phạt nói chung, quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt nói riêng

4. Căn cứ vào nhân thân người phạm tội: 

Nhân thân người phạm tội một phạm trù xã hội phức tạp được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như luật hình sự, tội phạm học, tâm học, triết học ... Nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS của họ, đề cập đến vấn đề này, GS.TS Thị Sơn đã nêu

Những đặc điểm nhân thân của người phạm tội cần cân nhắc trong tổng thể khi quyết định hình phạt những đặc điểm nhân thân sau: Những đặc điểm nhân thân của người phạm tội ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội như phạm tội lần đầu hay đã tiền án, tiền sự, tái phạm thường hay tái phạm nguy hiểm, phạm tội tính chất chuyên nghiệp hay không, người chưa thành niên phạm tội hay đã thành niên …; – Những đặc điểm nhân thân của người phạm tội phản ánh khả năng giáo dục họ như thái độ tự thú hoặc hối cải, lập công chuộc tội hay thái độ ngoan cố ...; 

Những đặc điểm nhân thân của người phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của họ như người bị bệnh hiểm nghèo, già yếu, phụ nữ thai hoặc nuôi con nhỏ hoặc người hoàn cảnh bản thân hay gia đình đặc biệt khó khăn ...

Xét đến nhân thân người phạm tội xét đến tổng hợp những quan hệ giữa người ấy với hội, tập thể, gia đình, với những người khác những đặc điểm của bản thân người phạm tội. Nhân thân người phạm tội một khái niệm rộng, đa dạng, nhưng khi cân nhắc nhân thân người phạm tội để quyết định hình phạt thì không được trừu tượng hóa tách rời khỏi tội phạm do người đó thực hiện, bởi hình phạt luôn luôn hình phạt cho hành vi phạm tội đã được thực hiện chứ không phải cho nhân thân của người phạm tội. Xem xét nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt không nghĩa xem xét nhân thân nói chung chỉ xem xét những đặc điểm nhất định liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội cũng như liên quan đến mục đích của hình phạt

Để quyết định hình phạt đúng, một trong những đòi hỏi quan trọng phải làm những đặc điểm về nhân thân người phạm tội. Những đặc điểm về nhân thân người phạm tội được thể hiện trong lịch bị can, bị cáo các tài liệu khác liên quan. Không phải mọi tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội đều được xem xét khi quyết định hình phạt chỉ những tình tiết liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội mới được xem xét để quyết định hình phạt, đó những đặc điểm nhấn thân liên quan trực tiếp với việc thực hiện tội phạm. Nhóm tình tiết phản ánh mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội như: phạm tội lần đầu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm hoặc phạm tội tính chất chuyên nghiệp ...; Nhóm tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội khác phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội như: thái độ ăn năn hối cải, đầu thú, tự thú, lập công lớn ...; hay nhóm tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của họ như: người già, phụ nữ thai...Những đặc điểm nhân thân khác tuy không mang tính chất pháp , không liên quan đến tội phạm, không phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi người phạm tội, nhưng khi quyết định hình phạt Tòa án phải xem xét đến các đặc điểm đó quan hệ đến các đối tượng của chính sách Đảng Nhà nước như: Người phạm tội thuộc dân tộc ít người, người công với cách mạng, thuộc gia đình liệt sỹ, nhân sĩ, trí thức tên tuổi Tòa án cân nhắc những tình tiết này khi quyết định hình phạt sẽ bảo đảm hình phạt áp dụng cho mỗi bị cáo phù hợp với các nguyên tắc của luật hình sự, phù hợp với đường lối chính sách khoan hồng của Đảng Nhà nước trong xử tội phạm

Nhân thân người phạm tội không phải yếu tố cấu thành tội phạm. Nhân thân người phạm tội chủ thể của tội phạm hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Trong khi, chủ thể của tội phạm khái niệm dùng để chỉ con người cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội, năng lực TNHS đạt độ tuổi nhất định, ngoài ra một số tội phạm còn đòi hỏi dấu hiệu chủ thể đặc biệt thì nhân thân người phạm tội như đã nêu trên tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS của họ. Chủ thể của tội phạm một trong bốn yếu tố cấu thành của tội phạm một trong các điều kiện của TNHS; còn nhân thân người phạm tội không chỉ ý nghĩa đối với việc định tội danh ý nghĩa một trong các căn cứ quyết định hình phạt. Tuy nhiên, trong một số trường hợp những đặc điểm về nhân thân người phạm tội đã được quy định là yếu tố loại trừ TNHS, miễn hình phạt, định tội, định khung hình phạt hoặc quy định tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS. Nhân thân của người phạm tội bao gồm cả mặt tốt xấu

Tóm lại, nếu như chỉ dựa vào các quy định của BLHS; tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội để quyết định hình phạt thì Tòa án chỉ thể lựa chọn được hình phạt cụ thể tuyên cho bị cáo, tuy nhiên, hình phạt đó thể vẫn chưa thực sự phù hợp với khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội cũng như hoàn cảnh đặc biệt của họ. Vì vậy, việc nhà làm luật quy định nhân thân người phạm tội một căn cứ quyết định hình phạt cần thiết bởi việc quy định này không chỉ giúp Tòa án đánh giá đúng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội còn giúp Tòa án quyết định hình phạt phù hợp với khả năng cải tạo, giáo dục của bị cáo hoàn cảnh đặc biệt của họ

Đối với người phạm tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt, các yếu tố nhân thân người phạm tội tầm quan trọng để Tòa án cân nhắc xem xét khi quyết định hình phạt. dụ: A B cùng đồng phạm tội cướp giật tài sản. Khi xem xét nhân thân của A cho thấy A đã từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản, đến ngày phạm tội mặc đã được xóa án tích nhưng cần đánh giá nhân thân của A xấu. Khi xem xét nhân thân của B cho thấy B chưa từng bị kết án, chưa từng bị xử hành chính, công ăn việc làm ổn định, trước khi phạm tội đã chấp hành pháp luật tốt. Do đó việc quyết định hình phạt đối với A phải nặng hơn đối với B, nếu vai trò của 2 bị cáo trong vụ án như nhau. Như vậy, việc cân nhắc nhân thân người phạm tội giúp cho Tòa án không những hiểu được tính chất con người phạm tội còn đánh giá được khả năng giáo dục, cải tạo họ, nguyên nhân, điều kiện của việc thực hiện tội phạm để hình phạt mức hình phạt phù hợp. Trên sở đó, Tòa án thực hiện được nguyên tắc thể hóa hình phạt bảo đảm nguyên tắc công bằng khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội

5. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: 

Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS những tình tiết được quy định trong BLHS hoặc do Tòa án xác định trên sở hướng dẫn của quan thẩm quyền. Những tình tiết này ý nghĩa về mặt lượng hình làm giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS, hình phạt đối với người phạm tội trong một khung hình phạt nhất định. BLHS quy định các tình tiết giảm nhẹ TNHS các tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều 51 Điều 52, làm sở pháp cho Tòa án khi quyết định hình phạt. Những tình tiết này ý nghĩa về mặt lượng hình để giảm hoặc tăng mức hình phạt trong một khung hình phạt nhất định, chứ không tính chất bắt buộc như tình tiết định tội định khung hình phạt. vậy, khi xét xử Tòa án phải xác định tội danh khung hình phạt trước, sau đó mới cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS. Trong phạm vi một khung hình phạt nhất định, những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS cho phép Tòa án cân nhắc để thể hóa hình phạt. Các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng TNHS, về nguyên tắc chỉ cho phép giảm nhẹ hoặc tăng nặng trong giới hạn của khung hình phạt nhất định. nhiều tình tiết tăng nặng TNHS thì Tòa án cũng không được quyết định cho người phạm tội một hình phạt cao hơn mức tối đa đã được quy định trong khung hình phạt áp dụng. Nhưng nếu nhiều tình tiết giảm nhẹ thì theo nguyên tắc nhân đạo trong BLHS, Tòa án thể QĐ dưới mức thấp nhất khung hình phạt trong điều luật đã quy định cho tội phạm, hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại Điều 51 BLHS thể chia thành các nhóm sau

Thứ nhất, nhóm tình tiết giảm nhẹ TNHS ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội. Những tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc nhóm này bao gồm: Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn mức độ giảm nhẹ TNHS phụ thuộc vào mức độ thiệt hại xảy ra trên thực tế; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng mức độ giảm nhẹ TNHS phụ thuộc vào mức độ ít nghiêm trọng của hành vi phạm tội; phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng; phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; phạm tội trong trường hợp bị kích động mạnh về tinh thần do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người bị hại hoặc người khác gây ra trong trường hợp này mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật càng cao thì mức độ giảm nhẹ TNHS càng nhiều; phạm tội hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không phải do tự mình gây ra mức độ giảm nhẹ TNHS của người phạm tội phụ thuộc vào mức độ khó khăn mức độ cố gắng tìm cách khắc phục của người phạm tội; phạm tội bị người khác đe dọa, cưỡng bức mức độ giảm nhẹ TNHS của người phạm tội phụ thuộc vào mức độ bị đe dọa, cưỡng bức, phạm tội do lạc hậu; người phạm tội người bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình

Thứ hai, nhóm tình tiết giảm nhẹ TNHS phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội, gồm : Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm mức độ giảm nhẹ TNHS của người phạm tội phụ thuộc vào thái độ của người đó đối với việc ngăn chặn tích cực hay không, mức độ thiệt hại được ngăn chặn, người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả mức độ giảm nhẹ TNHS của người phạm tội phụ thuộc vào sự cố gắng của người phạm tội cũng như mức độ hậu quả được khắc phục trên thực tế, người phạm tội tự thú; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, người phạm tội tích cực giúp đỡ các quan trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm; lập công chuộc tội; thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, công tác

Thứ ba, nhóm tình tiết giảm nhẹ TNHS phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội, bao gồm: Người phạm tội phụ nữ thai, người phạm tội người già

Các tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại Điều 52 BLHS thể chia thành hai nhóm sau

Thứ nhất, các tình tiết tăng nặng TNHS ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội bao gồm: Phạm tội tổ chức; phạm tội tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội; phạm tội tính chất côn đồ; phạm tội động đê hèn; cố tình thực hiện tội phạm đến cùng, dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác trong khi phạm tội hoặc dùng phương tiện, thủ đoạn khả năng gây nguy hại cho nhiều người; phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ thai, người già, người đang trong tình trạng không thể tự vệ được; phạm tội đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất công tác hoặc các mặt khác; xâm phạm tài sản nhà nước; phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; xúi giục người chưa thành niên phạm tội; lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của hội để phạm tội

Thứ hai, những tình tiết tăng nặng TNHS phản ánh khả năng cải tạo giáo dục của người phạm tội bao gồm: Phạm tội nhiều lần; tái phạm, tái phạm nguy hiểm; sau khi phạm tội đã những hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm

Nếu trong một vụ án hình sự vừa sự hiện diện một hoặc nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS lại vừa một hoặc nhiều tình tiết tăng nặng TNHS thì Tòa án phải đánh giá các tình tiết này một cách tổng thể thống nhất trong mối liên hệ biện chứng tác động ảnh hưởng qua lại với nhau trong toàn bộ vụ án. Thông thường nếu tính chất của các tình tiết giảm nhẹ TNHS tương đương với tính chất của các tình tiết tăng nặng TNHS thì khi quyết định hình phạt Tòa án coi như không các tình tiết đó. Nhưng nếu các tình tiết giảm nhẹ TNHS ý nghĩa giảm nhẹ nhiều hơn thì Tòa án quyết định theo hướng giảm nhẹ TNHS. Ngược lại, nếu các tình tiết tăng nặng TNHS ý nghĩa tăng nặng nhiều hơn thì Tòa án quyết định hình phạt theo hướng tăng nặng TNHS đối với người phạm tội

dụ: Bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sảntại Điều 104 BLHS, khi xem xét tình tiết tăng nặng bị cáo phạm tội 2 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; xem xét các tình tiết giảm nhẹ bị cáo nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả trước khi xét xử bị cáo tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính 150.000.000 đồng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo lập công chuộc tội tham gia bắt giữ đối tượng hành vi cướp tài sản; Ngoài ra, bị cáo đầu thú bố vợ được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba nên được áp dụng các tình tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do bị cáo 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 nên sau khi đối trừ đi 01 tình tiết tăng nặng, bị cáo vẫn còn 02 tình tiết giảm nhẹ khoản 1 02 tình tiết giảm nhẹ khoản 2 Điều 51 BLHS, vậy Tòa án thể áp dụng Điều 54 BLHS, phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng phù hợp

Khi áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS đối với những người phạm các tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt cần chú ý đến các tình tiết giảm nhẹ TNHS phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội như người phạm tội đã ngăn chặn làm giảm bớt tác hại của tội phạm, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại để quyết định hình phạt tương xứng. Đối với các tình tiết tăng nặng TNHS cần lưu ý các tình tiết phạm tội tổ chức hoặc phạm tội tính chất chuyên nghiệp để lấy việc chiếm đoạt làm nguồn thu nhập thường xuyên thì cần quyết định hình phạt nghiêm khắc hơn. Việc vận dụng những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS chính xác giúp Tòa án đánh giá đúng đắn tính chất vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi người phạm tội, trên sở đó mới thể quyết định loại mức hình phạt công bằng, căn cứ đúng pháp luật. Đồng thời việc áp dụng đúng đắn các tình tiết này một trong những bảo đảm cho việc thống nhất cách vận dụng chính sách hình sự của Nhà nước trong công tác phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm, 

Tóm lại, các căn cứ quyết định hình phạt sự cụ thể hóa của các nguyên tắc quyết định hình phạt ý nghĩa cùng quan trọng đối với hoạt động quyết định hình phạt của 

Tòa án. Nếu không các căn cứ quyết định hình phạt chỉ dựa vào các nguyên tắc quyết định hình phạt thì thể dẫn đến tình trạng hình phạt Tòa án đã tuyên không căn cứ, thiếu thống nhất nên khó khả năng đạt được mục đích của hình phạt. Do đó, các căn cứ quyết định hình phạt sẽ sở pháp để Tòa án dựa vào đó quyết định hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi người phạm tội đã thực hiện, bảo đảm bản án của Tòa án tính hợp pháp căn cứ pháp , khắc phục tình trạng tùy tiện, thiếu thống nhất khi quyết định hình phạt. Đồng thời, việc quy định các căn cứ quyết định hình phạt trong BLHS góp phần củng cố pháp chế XHCN, tuyên truyền củng cố niềm tin trong nhân dân về chính sách hình sự, nghiêm trị kết hợp với khoan hồng để từ đó nhân dân tích cực tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo