Căn cứ pháp lý và các giai đoạn định tội danh của tội mua bán người

Căn cứ pháp lý của việc định tội danh đối với tội mua bán người là những quy định trong phần Chung và Điều 150 Bộ luật hình sự 2015 với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện là tội mua bán người.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Căn cứ pháp lý của định tội danh tội mua bán người:

sở pháp của việc định tội danh hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự pháp luật tố tụng hình sự được dùng để xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho hội được thực hiện bị coi tội phạm. GS.TSKH Cảm, định nghĩa về định tội danh thể hiểu thì những căn cứ pháp của việc định tội danh hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự với tính chất sở pháp duy nhất (trực tiếp), cũng như hệ thống các quy phạm pháp luật ttụng hình sự với tính chất sở pháp bổ trợ (gián tiếp) cho toàn bquá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho hội được thực hiện tội phạm

Trong quá trình định tội danh, BLHS ý nghĩa quyết định quan trọng nhất, đóng vai trò sở pháp trực tiếp của việc định tội danh, hiện nay BLHS nước ta nguồn trực tiếp duy nhất ghi nhận toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật hình sự hiện nh được áp dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, cũng như quá trình định tội danh quyết định hình phạt nói riêng

sở pháp gián tiếp của việc định tội danh: trong quá trình định tội danh, nếu các quy phạm pháp luật của BLHS đóng vai trò sở pháp trực tiếp về mặt nội dung, thì các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự sở pháp gián tiếp về mặt hình thức quy định cách thức, trình tự, thẩm quyền định tội danh

Nvậy thđịnh nghĩa khái niệm căn cứ pháp của việc định tội danh đối với tội mua bán người như sau: Căn cứ pháp của việc định tội danh đối với tội mua bán người những quy định trong phần Chung quy phạm pháp luật hình sự được quy định tại Điều 150 Bộ luật hình sự 2015 với tính chất sở pháp duy nhất (trực tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho hội được thực hiện tội mua bán người

1.1. Khách thể của tội mua bán người: 

Tội mua bán người tác động trực tiếp đến con người. Tội mua bán người xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự quyền con người được pháp luật bảo vệ. Người phạm tội coi con người như một hàng a để mua, bán, trao đổi nhằm mục đích kiếm lợi hoặc mục đích khác

1.2. Mặt khách quan của tội mua bán người: 

Mặt khách quan của tội phạm những biểu hiện của tội phạm ra ngoài thế giới khách quan, bao gồm hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho hội mối quan hệ giữa nh vi với hậu quả, phương tiện, công cụ, phương pháp, thời điểm,... thực hiện tội phạm

Mặt khách quan của tội mua bán người đầu tiên hành vi khách quan cụ thể ba nhóm hành vi. Nạn nhân của ba nhóm hành vi này người từ từ đủ 16 tuổi trở lên. Hành vi thứ nhất chuyển giao hoặc tiếp nhận người để chuyển giao kèm theo việc nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vt chất khác, thứ hai hành vi chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận thể của họ hoặc nhằm mục đích nhân đạo khác, thứ ba hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác

Để thực hiện việc phạm tội mua bán người, người phạm tội thể dùng các hành vi như lừa gạt, dụ dỗ, ép buộc bằng nhiều hình thức thủ đoạn người bị hại tự nguyện thì người thực hiện hành vi phạm tội mua bán người vẫn bị truy cứu TNHS. Tội phm được coi hoàn thành khi đã thực hiện việc thỏa thuận mua bán, không cần thiết phải hoàn thành việc trao đổi người hay lợi ích vật chất

Tội mua bán người tội phạm cấu thành hình thức. Tội phm hoàn thành từ khi người phạm tội thực hiện hành vi mua bán người căn cứ khẳng định mua bán người.[25, tr.271]. Kết quả tiến hành mua bán được hay không, không ý nghĩa đối với việc định tội

1.3. Chủ thể của tội mua bán người:

Chủ thể của tội phạm người đã lỗi (cố ý hoặc ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội bị Luật nh sự cấm, năng lực TNHS đủ tuổi chịu TNHS.[30, tr. 343]

Người phạm tội mua bán người nhận thức được hành vi của mình trái pháp luật và bhội lên án. Khi thực hiện tội mua bán người bằng hình thc đồng phạm, người phạm tội không những nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm còn nhận thức được hành vi của những người đồng phạm khác cũng nguy hiểm cho hội có quan hệ chặt chẽ với hành vi của mình

Căn cứ vào cách phân loại tội phm và tui chịu TNHS quy định tại Điều 9, Điều 12 BLHS năm 2015, cho thấy Theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 thì

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trnhững tội phạm mà Bluật này quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình svtội giết người. Tội cý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tội hiếp dâm...; Điều 150 (tội mua bán người)...

Chủ thể của tội mua bán người phải người có khng nhận thức điều khiển nh vi của mình. Phải đạt độ tuổi từ 14 trở lên, người từ đủ 14 | tuổi đến dưới 16 tuổi phi chịu TNHS theo Khoản 1 Điều 150 BLHS phải chịu TNHS theo quy định tại Khoản 2 điều này. Trên thực tế thì chủ thể của loại tội phạm này thường người đã thành niên loại tội này nguy hiểm và đòi hỏi sự khôn khéo, tinh vi. Người chưa thành niên phạm tội này thường vai trò đồng phạm

1.4. Mặt chủ quan của tội mua bán người:

Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức hành vi của mình nguy hiểm cho hội thấy trước hậu quả của hành vi đó vẫn mong muốn xảy ra. Từ khái niệm này: Thứ nhất, người phạm tội mua bán người nhận thức tính chất nguy hiểm của hành vi, hậu quả tất yếu xảy ra hoặc thể xảy ra; thứ hai, người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra

Đối với một số tội phạm cấu thành tội phạm hình thức (hậu quả thực tế rất khó được xác định) thì cần xác định rõ ràng mức độ hình dung về hậu quả để c định tội phm (dụ như tội vu khng, tội làm nhục người khác,..). Lỗi cố ý trực tiếp khi người phạm tội thực hiện hành vi mua bán, trao đổi người khác nhận thức hành vi của mình, mong muốn hành vi đó diễn ra

Khi kiểm tra các yếu tố cấu thành tội phạm, cần lưu ý xem vụ án mua bán người đồng phạm không, nếu đồng phạm thì cần làm sự phân công trong việc thực hiện tội phạm, nhất vai trò của người chủ mưu, cầm đầu trong vụ án.

2. Ý nghĩa của định tội danh đối với tội mua bán người: 

Trong quá trình giải quyết vụ án mua bán người, việc định tội danh đối với tội phạm này ý nghĩa rất quan trọng

Thnhất, định tội danh một trong những giai đoạn bản, một nội dung quan trọng của quá trình áp dụng pháp luật hình sự một trong những biện pháp đưa các quy phạm pháp luật hình svào cuc sống. Định tội danh còn tiền đề, sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật khác của pháp luật hình sự và pp luật tố tụng nh sự vào thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử

Thứ hai, định đúng tội danh đối với tội mua bán người ra các quyết định hình pht kịp thời, thể hiện được ý thức tuân thủ chấp hành pháp luật trình độ chuyên môn của quan thẩm quyền. Từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tiến nh tố tụng người tiến nh tố tụng

Thứ ba, trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, việc đnh tội danh đúng ý nghĩa không chỉ về pháp luật cả về mặt chính trị hội. Bởi lẽ, định tội danh đúng ssở cho việc định khung hình pht đúng tiền đề cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự thể hoá hình phạt một cách công minh, căn cứ đúng pháp luật, đồng thời để áp dụng chính xác các quy định của BLHS về các tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vị, hình phạt, i phạm, quyết định hình phạt trong trường hợp nhiều tội phạm..

Ngược lại, nếu định tội danh sai sẽ dẫn đến các hiệu quả tiêu cực như không bảo đảm được tính công minh, căn cứ đúng pháp luật của hình phật được quyết định, làm oan người tội, bỏ lọt người phm ti, thậm chí xâm phạm nghiêm trọng danh dự và nhân phẩm, các quyền tự do của công dân cũng như xâm phạm pháp chế hội chủ nghĩa, đồng thời còn làm giảm uy tín và hiệu lực của các quan bảo vệ pháp luật, giảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm

3. Các giai đoạn định tội danh đối với tội mua bán người:

Định tội danh đối với tội mua bán người được thực hiện theo 04 giađoạn

Giai đoạn thứ nhất: Phân tích, đánh giá hành vi của người phạm tội trong vụ án

Sau khi đã tiếp nhận hồ vụ án hình sự, cần phân tích, đánh giá hành vi của người phạm tội trong vụ án để nắm vững tất cả những hành vi, tình tiết ý nghĩa về mặt hình sự trong vụ án. Qua đó, thể phát hiện ra những điểm mấu chốt trong vụ án, giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, chinh xác và đạt hiệu qucao.

Giai đoạn thứ hai, xác đnh hướng m hại (khách thể loại) của hành vi do người phạm tội thực hiện

Tội mua bán người được quy định tại Điều 150 thuộc chương XIV BLHS 2015 (các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người). Như vậy, việc đầu tiên phải xác định nh vi của người phạm tội xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người khách thể loại của tội mua bán người hay không

Sau khi xác định được khách thể loi bị xâm hại, việc tiếp theo cần xác định xem hành vi của người phm tội xâm hại đến danh dự, nhân phẩm của con người hay không. Tội mua bán người xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự của con người, xâm phm đến quyền con người được pháp luật bảo vệ

Giai đoạn thứ ba, kiểm tra quy phạm pháp luật hình sự về tội mua bán người (CTTP của tội mua bán người) với từng hành vi của người phạm tội trong vụ án

Đây giai đoạn quan trọng nhất nhằm xác định trách nhiệm hình sự của chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội. Việc định tội danh không phải một hoạt động đơn giản chỉ cần biết tuân thủ các quy định của pháp luật đủ, đó một hoạt động nghiệp vụ pháp phức tạp, một hoạt động mang tính nhận thức của người tiến hành đnh tội danh.

Giai đoạn thứ , những kết quả kiểm tra nói trên được kết luận đối với từng người phạm tội trong vụ án. Từ đó, kết luận nh vi của từng người cấu thành tội mua bán người hay không, nếu không phải tội mua bán người thì phạm tội ?

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo