Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Chiếm đoạt tài sản (xã hội chủ nghĩa hoặc của công dân) được hiểu là cố ý chiếm lấy không hoàn lại một cách trái phép và biến nó thành tài sản của mình hoặc chuyển cho người khác bằng hình thức quy định trong luật và có tính chất vụ lợi.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Đặc điểm pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS 2015:

Trong BLHS hiện hành, ti phạm xâm phạm sở hữu được quy định tChương XVI gồm 13 tội danh từ Điều 168 đến Điều 180 Bộ luật Hình sự. Đối với tội xâm phạm sở hữu do người dưới 18 tuổi thực hiện thì những đặc điểm như sau

Thứ nhất, chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu người dưới 18 tuổi thực hiện. Theo quy định của điều 12 điều 90 BLHS 2015, người dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Như vậy, với những người chưa đủ 14 tuổi không thuộc trường hợp phải chịu TNHS cho mọi loại tội

Mặt c chủ thể thực hiện tội phạm người dưới 18 tuổi, tuy nhiên cũng sự phân hóa về trách nhiệm hình svới hai nhóm tuổi: nhóm người từ đủ 16 tuổi trở lên nhóm người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Căn cứ o điều 12 thì với người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS vmọi tội phạm xâm phạm sở hữu, tức với 12 tội xâm phạm sở hữu được quy định trong chương XVI BLHS 2015 thì khi hành vi phạm tội người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì tùy từng trường hợp mới phải chịu TNHS đối hành vi phạm tội xâm phạm đến các quyền sở hữu. Người từ đủ 14 tuổi đến đến dưới 16 tuổi năng lực TNHS là chthể của các tội phạm sau đây: Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169); các tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng sau đây: Tội cưỡng đoạt tài sản (các khoản 2,3,4 Điều 170); tội cướp giật tài sản (các khoản 2,3,4 Điều 171); Tội trộm cắp tài sản (các khoản 3,4 Điều 173); tội hủy hoại hoặc cố ý làm hỏng tài sản (các khoản 3,4 Điều 178)

Thứ hai, hành vi khách quan của các tội xâm phạm sở hữu tuy kc nhau về hình thức thể hiện nhưng đều cùng tính chất gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu, xâm phạm quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt của chủ thể hợp pháp của tài sản. Trong chương XVI BLHS 2015 dựa vào hành vi khách quan thể chia thành hai nhóm tội phạm: tội phạm xâm phm sở hữu tính chất chiếm đoạt tài sản tội phạm xâm phạm sở hữu không tính chất chiếm đoạt tài sản

Khái niệm chiếm đoạt tài sản xuất hiện từ khi khái niệm về tội phạm xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt tài sản. Theo GS.TS. Khánh Vinh thì: Chiếm đoạt tài sản (hội chủ nghĩa hoặc của công dân) cố ý chiếm lấy không hoàn lại một cách trái phép biến thành tài sản của mình hoặc chuyển cho ngưi khác bng hình thức quy định trong luật tính chất vụ lợi. Tội xâm phạm sở hữu tính chất chiếm đoạt tài sản gồm 8 tội : Tội Cướp tài sản(Điều 168), Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản(Điều 169), Cưỡng đoạt tài sản(Điều 170), Cướp giật tài sản(Điều 171), Công nhiên chiếm đoạt tài sản(Điều 172), Trộm cắp tài sản(Điều 173), Lừa đảo chiếm đoạt tài sản(Điều 174), Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản(Điều 175). Tội xâm phạm sở hữu không tính chất chiếm đoạt do người dưới 18 tuổi thực hiện gồm 5 tội : Tội chiếm giữ trái phép tài sản(Điều 176), Tội sử dụng trái phép tài sản(Điều 177); “Tội hủy hoạt hoặc cố ý làm hỏng tài sản(Điều 178); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, quan, tổ chức, doanh nghiệp(Điều 179); Tội ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản(Điều 180)

2. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt: 

Đối với tội Cướp tài sản(điều 168): Hành vi khách quan của tội cướp tài sản hành vi nhằm làm mất khng kháng cự của chủ sở hữu hoặc người quản tài sản. Hành vi này được thể hiện qua các dạng cụ thể: Dùng lực (dùng sức mạnh thể chất tác động đến thể người bị hại); Đe dọa dùng lực ngay tức khắc (bằng lời nói, cử chỉ, hành động truyền đạt đến người bị hại thông điệp đe dọa dùng lực ngay tức khắc nếu người đó không giao tài sản hoặc cản trở việc chiếm đoạt tài sản); Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (nhốt, ng thuốc mê...). Tội cướp tài sản tội CTTP hình thức được coi hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi khách quan nêu trên làm cho hoặc có khng làm cho người bị tấn công làm vào tình trạng không thể chống cự được, không kể người phạm tội chiếm đoạt được tài sản hay không

Đối với tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản(điều 169): Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thể hiện bằng hành vi bắt cóc người khác làm con tin. Đây hành vi bắt trái pháp luật người khác và giữ một nơi với ý thức sử dụng việc bắt giữ đó làm phương tiện để uy hiếp tinh thần người tiền, tài sản để đòi tiền, đòi tài sản chuộc. Người bị bắt cóc thông thường người quan hệ thân thuộc vi người tài sản như con cái, cha, mẹ...nhưng cũng thể là bất kỳ người nào người phạm tội cho rng thể sử dụng việc bắt giữ để uy hiếp tinh thần người tài sản để người y phải bỏ ra một khoản tiền hoặc tài sản chuộc theo yêu cu người phạm tội. Tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện xong hành vi bắt cóc con tin đe da người khác buộc phải giao tài sản

Đối với tội Cưỡng đoạt tài sản(điều 170): Hành vi khách quan của tội cưỡng đoạt tài sản thể là hành vi đe dọa sdùng lực hoặc hành vi khác uy hiếp tinh thần người khác. Hành vi đe dọa ng lực hành vi thể hiện thái độ, cử chỉ, lời nói cho người bị tấn công cảm giác sợ hãi tin rằng người phạm tội sẽ dùng lực nếu họ không giao tài sản. Khác với hành vi đe dọa trong tội cướp tài sản, hành vi đe dọa sẽ dùng lực trong tội cưỡng đoạt tài sản đe dọa sẽ dùng lực trong tương lai. Sức mãnh liệt của hành vi đe dọa chưa đến mức thể làm liệt ý chí chống cự của người bị đe dọa chỉ khả năng khống chế ý chí của họ. Người bị đe dọa thể còn điều kiện suy nghĩ, cân nhắc để lựa chọn xử sự của mình

Đối với hành vi khác uy hiếp tinh thần người khác thể hiện hành vi đe dọa sẽ gây thiệt hại về tài sản, danh dự, uy tín... nếu như người bị uy hiếp không thỏa mãn các yêu cầu của người phạm tội. Điều luật không giới hạn những thủ đoạn của hành vi uy hiếp tinh thần của tội cưỡng đoạt tài sản. Bất cứ thủ đoạn uy hiếp nào, khống chế được ý chí của người khác đều được coi thủ đoạn của hành vi uy hiếp tinh thần trong tội cưỡng đoạt tài sản. Tội cưỡng đoạt tài sản hoàn thành từ thời điểm người phạm tội một trong các hành vi được quy định trong điều luật, không phthuộc o việc người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa

Đối với tội Cướp giật tài sản(điều 171): là hành vi công khai nhanh chóng chiếm đoạt tài sản không dùng lực, đe dọa dùng lực hoc uy hiếp tinh thần người khác. Công khai nhanh chóng chiếm đoạt tài sản được hiểu người phạm tội lợi dụng điều kiện khách quan để công khai (người phạm tội không ý thức che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản của mình đối với người quản tài sản) nhanh chóng (chiếm đoạt i sản một cách bất ngờ trong một khoảng thời gian ngn) chuyển dịch tài sản từ người quản lý tài sản sang người phạm tội mà không dùng lực hoặc đe dọa, uy hiếp nào. Khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, người phạm tội không ý thức chiếm đấu với chủ sở hữu nhà tội cướp tài sản hay cưỡng đoạt tài sản. Về luận, các tài liệu nghiên cứu đều cho rằng, tội cướp giật tài sản được coi hoàn thành khi người phạm tội hành vi chiếm đoạt tài sản

Đối với tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản(Điều 172): qua thực tiễn xét xử thừa nhận hành vi khách quan của tội phạm này hành vi lợi dụng chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản công khai chiếm đoạt tài sản của họ. Tính công khai giống như hành vi cướp giật tài sản những hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản xảy ra trong hoàn cảnh người chủ sở hữu không điều kiện để ngăn cản. Do vậy, người phạm tội không cần không ý định sử dụng thủ đoạn nào khác để đối phó với chủ tài sản. Hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản cấu thành tội chiếm đoạt tài sản khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau: Tài sản chiếm đoạt giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên; dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây: Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản còn vi phạm hoặc đã bị kết án về các tội vi phạm quy định tại Điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 290 BLHS năm 2015, chưa được xóa án tích còn vi phạm hoặc ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn hội hoặc tài sản phương tiện kiếm sống chính của bị hại gia đình họ

Đối với tội Trộm cắp tài sản(điều 173): qua thực tiễn xét xử thừa nhận, hành vi khách quan của tội phạm này hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang người quản . Hành vi được coi lén lút nếu được thực hiện bằng hình thức đó khả năng không cho phép chủ tài sản biết hành vi chiếm đoạt khi hành vi xảy ra. Ý thức chủ quan của người phạm tội là lén lút, che dấu này thể che dấu toàn bộ hành vi phạm tội hoặc chỉ che giấu tính chất phi pháp của hành vi. Hành vi Trộm cắp tài sản chỉ cấu thành tội trộm cắp tài sản khi thỏa mãn một trong số các dấu hiệu sau: Tài sản chiếm đoạt trị giá 2.000.000 đồng trở lên, tài sản chiếm đoạt giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đã bị xử phạt vi phạm hành chính vhành vi chiếm đoạt tài sản còn vi phạm; đã bị kết án về tội này hoặc các tội được quy định tại c Điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 290 BLHS năm 2015, chưa được xóa án tích còn vi phạm hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc tài sản phương tiện kiếm sống chính của người bị hại gia đình họ hoặc tài sản di vật, cổ vật

Đối với tội Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản(điều 174): Hành vi khách quan của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản. Hành vi này được tạo bởi hai hành vi khác nhau là hành vi gian dối hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Hai hành vi này quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó hành vi gian dối thủ đoạn, tiền đề để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi gian dối đưc hiểu cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật làm cho chủ sở hữu hoặc người quản tài sản tin đó sự thật. Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó thông tin giả mong muốn người khác tin đó sự thật, để được họ giao tài sản. đây ta cần chú ý, thủ đoạn gian dối còn trong nhiều ti phạm khác như: Tội đánh bạc, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ... Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi: Tài sản chiếm đoạt giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên. Tài sản chiếm đoạt giá trị lớn dưới 2.000.000 đồng nhưng người thực hiện hành vi đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc bị kết án về các tội được quy định tại các Điều 168, | 169, 170, 171, 173, 174, 175 290 BLHS năm 2015 chưa được xóa án tích; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an tn hội. Tài sản phương tiện kiếm sống chính của người bị hại gia đình họ

Đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản(điều 175): bao gồm 02 nhóm hành vi cụ thể như sau: Một , vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đã đến thời hạn trả lại tài sản đó mặc điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả. Hai , vay, mượn, thuê i sản hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không khả năng trả lại tài sản. Hành vi lm dụng tín nhiệm chiếm đoạt i sản chỉ cấu thành tội lạm dụng tín nhim chiếm đoạt tài sản khi: Tài sản chiếm đoạt giá trị từ 4 triệu đồng nhưng người thực hiện hành vi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về các tội quy định tại Điều 168 169, 170, 171, 173, 174, 175, 290 

BLHS năm 2015, chưa được xóa án tích; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn hội; Tài sản phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình h

3. Các tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt: 

Tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 176): tội chiếm giữ trái phép tài sản thể hiện bởi hành vi chiếm giữ tài sản đang tạm thời không người hoặc chưa người quản một cách trái phép dưới hình thức: Không trả lại cho chủ sở hữu, người quản hợp pháp tài sản bị giao nhầm, không giao nộp cho quan trách nhiệm tài sản mình tìm được hoặc bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản hợp pháp hoặc quan trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật. Đối tượng tác động của hành vi chiếm giữ trái phép tài sản tài sản giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên, di vật, cổ vật hoặc vật giá trị lịch sử, văn hóa bị người khác đánh rơi, bỏ quên hoặc giao nhầm hoặc tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy nhưng không có hoặc không xác định được ai chủ sở hữu theo quy định của pháp luật thì thuộc về nhà nước

Tội sử dụng trái phép tài sản (điều 177): Hành vi phạm tội của tội này được quy định hành vi sử dụng trái phép tài sản. Trong đó, hành vi sử dụng được hiểu hành vi khai thác giá trị sử dụng của tài sản nhưng không làm cho chủ tài sản mất quyền sở hữu về tài sản. Tính trái phép của nh vi sử dụng thhiện chỗ: Người phạm tội tự ý sử dụng tài sản của người khác hoặc sử dụng tài sản thuộc phạm vi quản của mình nhưng không đúng theo quy định của pháp luật không mục đích chiếm đoạt. nh vi sử dụng trái phép tài sản cấu thành tội sử dụng trái phép tài sản khi không thuộc trường hợp quy định tại Điều 219 Điều 220 BLHS năm 2015 và thuc một trong các trường hợp sau: Tài sản bị sử dụng trái phép trị giá từ 100.000.000 đồng, đã bị xử kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép tài sản hoặc đã bị kết án về tội này và chưa được xóa án tích còn vi phạm; tài sản bị sử dụng trái phép dưới 500.000.000 đồng nhưng tài sản di vật, cổ vật

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hỏng tài sản (điều 178): Hành vi khách quan được quy định nh vi hủy hoại tài sản hoặc hành vi làm hỏng tài sản. Trong đó, hành vi hủy hoại tài sản được hiểu hành vi làm mất toàn bộ hoặc phần lớn giá trị sử dụng của tài sản không thể sửa chữa, khôi phc lại được. Hành vi làm hỏng tài sản được hiểu hành vi làm giảm một phần giá trị sử dụng của tài sản. Những hành vi này thể hành động (như đập phá, đốt ....) hoặc không hành động (cý không thực hiện hành vi đảm bảo an toàn cho tài sản). Tội phạm được coi hn thành khi hậu quả đã xảy ra. Hành vi hủy hoại hoặc làm hỏng cấu thành tội hủy hoại hoặc cố ý làm hỏng i sản khi thỏa n một trong các dấu hiệu như sau: Tài sn bị hủy hoại hoặc làm hỏng giá trị từ 2 triệu đồng trở lên; hoặc dưới 2 triệu nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hỏng tài sản; Đã bị kết án về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hỏng tài sản chưa được xóa án tích; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn hội; Tài sản phương tiện kiếm sống chính của người bị hại gia đình họ; Tài sản di vật, cổ vật

Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179) : Hành vi khách quan của tội phạm này hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các quy định về quản , sử dụng, bảo vệ tài sản của Nhà nước, quan, tổ chức, doanh nghiệp dẫn đến hậu quả mất mát, để hỏng, để sử dụng lãng phí tài sản, gây thiệt hại cho Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Tội phạm hoàn thành từ thời điểm gây ra thiệt hại cho tài sản của Nhà nước, quan, tổ chức, doanh nghiệp từ 100.000.000 trở lên

Ti ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (điều 180 BLHS): Hành vị này được hiểu hành vi vi phạm (không tuân thủ hoc tuân thủ không đầy đủ) nhng quy tắc sinh hoạt hội thông thường liên quan đến việc bảo vệ tài sản. Đó những quy tắc sinh hoạt hội ai cũng thể biết hoặc nghĩa vụ tuân thủ nhằm tránh gây ra những thiệt hại về tài sản. Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm gây ra thiệt hại vtài sản giá trị từ 100.000.000 trở lên

Thứ ba, đa số các tội xâm phạm sở hữu các tội được thực hiện do cố ý. Trong s12 tội quy định trong chương XVI BLHS 2015, 11 tội được thực hiện do cố ý, đó các tội: Cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản, cướp giật tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; chiếm giữ trái phép tài sản; sử dụng trái phép tài sản huỷ hoại hoặc cố ý làm hỏng i sản. Chỉ mt tội được thực hiện do ý, đó ti: Ti vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản. Lỗi, động phạm tội mục đích phạm tội[30] các diễn bên trong phản ánh trạng thái tâm của chủ thể đối với hành vi xâm phạm sở hữu hậu qudo hành vi đó gây ra. Trong đó: dấu hiệu lỗi dấu hiệu bắt buộc phải trong mọi cấu thành tội phạm cụ thể. Dấu hiệu đó thể được tả cụ thể hoặc không được tả cụ thể tùy theo sự cần thiết tả của từng tội phạm để thể phân biệt với tội phm khác định tội danh cho chính xác. Mục đích, động phạm tội không ý nghĩa quyết định tính chất nguy hiểm cho hội của tội phm do vậy cũng không phải dấu hiệu đặc trưng của tất cả các tội phạm để phân biệt giữa các loại tội phạm với nhau.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo