Bảo đảm quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa 

Bảo đảm quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa được bình đẳng với quyền của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thu thập chứng cứ sẽ đảm bảo được sự công bằng cho người bị buộc tội trong tranh tụng.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội: 

Quyền bào chữa một quyền thuộc phạm trù quyền con người trong hoạt động pháp. Từ lẽ đó pháp luật nước ta quy định cụ thể tại Hiến pháp năm 2013 quy định tại khoản 1 Điều 16: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luậttại khoản 4 điều 31: Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Trong khoa học luật TTHS, đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội không chỉ một nguyên tắc Hiến định còn một nguyên tắc quan trọng tính chất chỉ đạo xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án. (điều 16 BLTTHS năm 2015)

Quyền bào chữa được xem như phương tiện pháp cần thiết để những chủ thể nói trên bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Thừa nhận quyền bào chữa thừa nhận tính tranh tụng trong hoạt động tố tụng điều kiện không thể thiếu được cho việc xét xử khách quan, công minh

Càng mở rộng phạm vi quyền bào chữa bao nhiêu thì càng mở rộng tính tranh tụng bấy nhiêu kết quả tương ứng càng hạn chế khả năng làm oan sai người tội trong xét xử. 

Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội càng cao bao nhiêu thì sẽ tỷ lệ thuận với quyền của người bào chữa được mở rộng trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ bấy nhiêu. Nếu quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa được bình đẳng với quyền của người thẩm quyền THTT trong phạm vi thu thập chứng cứ sẽ đảm bảo được sự công bằng cho người bị buộc tội trong tranh tụng. Ngược lại, nếu quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa bị thu hẹp, bất bình đẳng với người thẩm quyền THTT thì sẽ dẫn đến sự thiên lệch, bất công bằng trong tranh tụng

2. Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội: 

Nguyên tắc suy đoán tội nguyên tắc của một loại hình tố tụng lấy các giá trị công bằng, bình đẳng làm nền tảng; chắn quan trọng hữu hiệu cho việc tôn trọng bảo vệ bảo đảm quyền con người trong TTHS. Quyền con người, quyền nghĩa vụ bản của công dân lần đầu tiên được quy định trong văn bản pháp giá trị cao nhất nước ta đó Hiến pháp năm 2013. Tại khoản 1 Điều 31 quy định: Người bị buộc tội được coi không tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định bản án kết tội của Tòa án đã hiệu lực pháp luật. Để bảo đảm cho sự phù hợp của PLTTHS với Hiến pháp. BLTTHS năm 2015 quy định thành nguyên tắc tại điều 13

Người bị buộc tội được coi không tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định bản án kết tội của Tòa án đã hiệu lực pháp luật. Khi không đủ không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không tội

Những nội dung của nguyên tắc suy đoán tội sở để bảo đảm quyền lợi của người bị buộc tội được hưởng Người bị buộc tội quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình tội(khoản 1 Điều 15 BLTTHS năm 2015) trách nhiệm chứng minh lỗi của người bị buộc tội phải được thực hiện theo một trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định

Quyền chứng minh của người bị buộc tội thể tự mình chứng minh hoặc nhờ người bào chữa thực hiện thông qua quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm sự thật khách quan của vụ án. Người bào chữa ngoài những quyền trên còn quyền thu thập chứng cứ, đề nghị quan thẩm quyền THTT thu thập chứng cứ, giám định lại, giám định bổ sung định giá lại tài sản (điểm 1, khoản 1 điều 73 BLTTHS năm 2015)

Bản án kết tội của Tòa án phải căn cứ vào những chứng cứ đã được kiểm tra, đánh giá kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Không được dùng những chứng cứ không được thu thập theo trình tự, thủ tục BLTTHS quy định không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày nếu họ không thể nói vì sao biết được tình tiết đó làm chứng cứ để kết tội bị cáo (khoản 2 điều 91 BLTTHS năm 2015) để làm căn cứ giải quyết vụ án hình sự. Khi không đủ không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không tội

Suy đoán tội thái độ nhìn nhận thực tế 

Cần được hiểu áp dụng nguyên tắc suy đoán tội như một điểm khởi đầu cho việc giải quyết vấn đề trong vụ án hình sự trên sở thái độ tích cực để nhìn nhận thực tế. Việc coi suy đoán tội như một thái độ tích cực rằng người này không thể phạm tội được hay hành vi này không thể được thực hiện bởi người kia... sẽ nhắc nhở, cảnh báo người thẩm quyền tiến hành tố tụng về những nguy hiểm vốn khi giả định tội. Việc đối xử với người bị tình nghi phạm tội như người đã tộidễ dẫn đến người bị người thực thi công vụ lạm dụng quyền hạn đe dọa, ép buộc hoặc xâm phạm thân thể để thể có được lời khai nhận tội. Mặt khác, nếu đặt suy đoán tội lên trước tiên thì việc tìm kiếm bằng chứng tội cho người bị buộc tội thay chỉ tập trung vào các chứng cứ buộc tội; nếu suy đoán tội thể khiến cho họ quáng khi xem xét các tình tiết để buộc tội, trong khi đó chẳng hạn thủ phạm thể một người hoàn toàn khác

3. Đảm bảo cho hoạt động bào chữa của người bào chữa: 

Bằng quy định trong pháp luật TTHS về quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa nhà nước đã đảm bảo (1) người bào chữa được thực hiện tất cả các quyền chức năng chuyên môn của mình không bị cản trở, can thiệp trái phép vào hoạt động của người bào chữa; (2) người bào chữa quyền tiếp xúc với các chủ thể tham gia tố tụng, quan, tổ chức, nhân khác để thu thập chứng cứ một cách tự do không giới hạn phạm vi về lãnh thổ cả trong nước ngoài nước; (3) người bào chữa thực hiện quyền tranh tụng trong môi trường tranh tụng thật sự công bằng bình đẳng giữa bên buộc tội với bên bào chữa gỡ tội; (4) Các quan thẩm quyền THTT phải tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa trong việc đăng bào chữa, thông báo về thời gian, địa điểm lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can, hoạt động tố tụng khác đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ vụ án sau khi kết thúc điều tra, nhận các văn bản tố tụng khác

4. Bảo đảm quyền tự do thu thập và đánh giá chứng cứ: 

Bên cạnh việc đảm bảo các quyền của người bào chữa cho hoạt động bào chữa thì việc bảo đảm quyền tự do thu thập đánh giá chứng cứ của người bào chữa phải được coi trọng hơn cả. Tuân thủ quy định về đánh giá chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 108 BLTTHS năm 2015 cho thấy Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến ván. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sựbình đẳng trong đánh giá chứng cứ trong tranh tụng được BLTTHS năm 2015 quy định trong điều 26: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa người tham gia tố tụng khác đều quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm sự thật khách quan của vụ án. Trong bài viết bàn về tranh tụng trong tố tụng hình sự tác giả đã nhận xét việc tranh tụng hình tranh tụng hai bên với những lợi ích đối kháng rệt, đó bên buộc tội bên bị buộc tội. “Trong tố tụng tranh tụng, quan công tố và luật hoàn toàn bình đẳng nhau họ được pháp luật trao những quyền tương ứng với chức năng để thể điều tra độc lập thu thập chứng cứ phục vụ cho công việc của mình. Từ những quy định trong BLTTHS năm 2015 về quyền thu thập chứng cứ thì thể thấy PLTTHS Việt Nam cần phải mở rộng hơn phạm vi thu thập chứng cứ của người bào chữa với những quyền năng tương ứng với bên buộc tội

5. Bảo đảm trách nhiệm của người bào chữa trong thực hiện quyền thu thập, đưa ra chứng cứ:

Với cách một trong những thành tố quan trọng trong thực hành pháp người bào chữa phải luôn luôn gìn giữ danh dự phẩm giá nghề nghiệp của mình trong hoạt động bào chữa nói chung phải trách nhiệm trong các hoạt động khi thực hiện quyền thu thập, đưa ra chứng cứ để phục vụ cho việc bào chữa, (1) Đối với người bào chữa Luật với chức năng ứng xử nghề nghiệp

Luật sứ mệnh bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các nhân, tổ chức, cơ quan, bảo vệ sự độc lập của pháp, góp phần bảo vệ công , công bằng, phát triển kinh tế hội xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hội chủ nghĩa

(2) Đối với người bào chữa Trợ giúp viên pháp thì ngay điều 2 luật trợ giúp pháp quy định

Trợ giúp pháp việc cung cấp dịch vụ pháp miễn phí cho người được trợ giúp pháp trong vụ việc trợ giúp pháp theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công bình đẳng trước pháp luật

(3) Đối với người bào chữa BCVND được quy định chi tiết tại khoản 3 Điều 72 BLTTHS năm 2015

Bào chữa viên nhân dân công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, phẩm chất đạo đức tốt, kiến thức pháp , đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội thành viên của tổ chức mình

(4) Người bào chữa người đại diện của người bị buộc tội được quy định tại khoản 3 Điều 139 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định hậu quả pháp của hành vi đại diện 

Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này không phản đối

Ngoài ra, người bào chữa còn phải luôn tôn trọng một cách trung thành với quyền lợi của người mình bào chữa bằng lao động cần mẫn chủ động thực hiện công việc

Mặt khác, pháp luật tố tụng hình sự cũng quy định những chế tài để xử các hành vi vi phạm pháp luật của người bào chữa theo quy định tại khoản 3 Điều 73 của BLTTHS năm 2015

Người bào chữa vi phạm pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm bị hủy bỏ việc đăng bào chữa, bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của luật quy định tại điều 85 luật Luật năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012 quy định xử lý kỷ luật với luật

Luật vi phạm quy định của Luật này, Điều lệ, quy tắc đạo đức ứng xử nghề nghiệp luật quy định khác của tổ chức hội nghề nghiệp của luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau đây: a) Khiển trách; b) Cảnh cáo; c) Tạm đình chỉ cách thành viên Đoàn luật từ sáu tháng đến hai mươi bốn tháng; d) Xoá tên khỏi danh sách luật của Đoàn luật

6. Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thu thập, đưa ra chứng cứ: 

Trong tố tụng hình sự nước ta bảo đảm pháp chế hội chủ nghĩa nguyên tắc bản quan trọng bậc nhất vai trò định hướng cho các hoạt động tố tụng diện bao phủ rộng khắp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Chính sách pháp luật tố tụng hình sự được thể chế hóa bằng quy định tại Điều 7 của BLTTHS năm 2015 làm tiền đề cho tất cả hoạt động trong tố tụng hình sự bắt buộc phải tuân thủ, chấp hành, áp dụng nghiêm chỉnh nhất quán các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, đó Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định. Nội dung của quy định đã một tuyên bố khẳng định (1) quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải tuyệt đối tuân thủ những quy định của BLTTHS; (2) Không được cản trở hoặc tiến hành các hoạt động, giải quyết vụ án ngoài những căn cứ, trình tự thủ tục do BLTTHS đã quy định; (3) Việc thu thập, đưa ra xem xét, đánh giá chứng cứ để giải quyết vụ án phải dựa trên các căn cứ của BLTTHS loại bỏ ngay những chứng cứ, tài liệu không đáp ứng các yêu cầu dụ: “Các đồ vật như con dao, tấm thớt tìm mua sau này chỉ ý nghĩa củng cố thêm các lời khai của Hải phục vụ cho việc nhận dạng hoặc chứng cứ, tài liệu, đồ vật trong vụ án nhưng quan thẩm quyền THTT, người thẩm quyền THTT không thu giữ để làm căn cứ giải quyết vụ án như trường hợp của Vụ án xảy ra tại bưu cục Cầu Voi Khi khám nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra không thu giữ con dao, cái thớt do lúc đó con dao bị giấu phía sau tấm bảng dựng sát tường. Sau đó, những người dọn hiện trường đã phát hiện con dao báo cho cơ quan điều tra nhưng cơ quan điều tra lại không kịp thời thu giữ dẫn đến thất lạc, đây thiếu sót trong hoạt động điều tra.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư sáng lập, Giám đốc Công ty Luật TNHH Dương Gia.
Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Nguyên Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân Tối cao.
Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại TPHCM.
Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Trưởng chi nhánh Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Đà Nẵng.
Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Nguyên Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên.
Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Nguyên Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Trưởng chi nhánh Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Miền Trung.
Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư của Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại TPHCM.
Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại Đà Nẵng.
Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Công ty Luật TNHH Dương Gia chi nhánh tại TPHCM.
Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật TNHH Dương Gia tại Hà Nội.
Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Chuyên viên pháp lý Công ty Luật Dương Gia chi nhánh Đà Nẵng.
Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo