Quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa là gì?

Khái niệm cơ bản của quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trong vụ án hình sự, đến nay tuy đã có được đề cập trong sách báo pháp lý nhưng có rất ít các công trình nghiên cứu về mặt lý luận quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trong tố tụng hình sự.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Khái niệm những dấu hiệu bản của quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trong vụ án hình sự, đến nay tuy đã được đề cập trong sách báo pháp nhưng rất ít các công trình nghiên cứu về mặt luận quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trong tố tụng hình sự một cách toàn diện. Tác giả nhận thấy, vấn đề bản đầu tiên cần được giải quyết phải đưa ra cho được định nghĩa khoa học của khái niệm quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự

Trước khi đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trong vụ án hình sự ? Theo logic của vấn đề, chúng ta cần tìm hiểu các khái niệm

1. Khái niệm bào chữa người bào chữa: 

Bào chữa ? Trước hết theo tiếng anh excuses, nghĩa lời bào chữa. Theo từ điển tiếng việt thì động từ Bào chữa dùng nhiều lẽ, chứng cớ để bênh vực cho một đương sự nào đó thuộc một vụ án hình sự trước Tòa án hoặc việc nào đó đang bị lên án

Người bào chữa ai? Người bào chữa hay bào chữa viên thuật ngữ chỉ về những người kiến thức pháp luật kinh nghiệm hoạt động tố tụng thay mặt thân chủ tham gia tố tụng trong một vụ án hình sự để biện hộ, bảo vệ cho thân chủ của mình để chống lại sự buộc tội, truy tố hoặc một sự tố cáo, họ quyền tranh tụng với các chủ thể khác trong quá trình xử vụ án hình sự . Theo quy định của điều 72 BLTTHS năm 2015:

1. Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.

2. Người bào chữa có thể là:

a) Luật sư;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Như vậy, chỉ có những người được quy định trên đây mới là người bào chữa.

2. Khái niệm quyền thu thập, đưa ra chứng cứ: 

Khái niệm quyền ? Quyền khái niệm khoa học pháp dùng để chỉ những điều pháp luật công nhận đảm bảo thực hiện đối với nhân, tổ chức để theo đó nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi không ai được ngăn cản, hạn chế . Trong khoa học pháp , theo định nghĩa chung nhất thì quyền những việc một người được làm không bị ai ngăn cản, hạn chế.

Phân loại quyền gồm :

(i) Quyền đương nhiên như quyền làm người, quyền được sống, quyền được tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc.

(ii) Quyền do luật pháp cho phép làm hoặc luật pháp không cấm làm (quyền pháp ).

(iii) Quyền do điều lệ của tổ chức chính trị hội, các tổ chức quần chúng cho phép hội viên được làm.

(iv) Quyền do người khác ủy quyền. Một công trình khoa học đã nghiên cứu về quyền của một trong những người bào chữa luật trong hoạt động TTHS định nghĩa

Quyền của luật trong hoạt động tố tụng hình sự những hành vi luật được làm hoặc bắt buộc phải làm hay không được làm trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, bị hại, đương sự, góp phần tìm ra sự thật khách quan của vụ án

Thu thập chứng cứ 

Thu thập theo từ điển tiếng Việt góp nhặt tập hợp lại chứng cứ ? trước hết theo tiếng anh evidence nghĩa chứng cứ. Theo định nghĩa của từ điển Oxford thì danh từ evidence the facts, signs or objects that make you believe that something is true  các sự kiện, dấu hiệu hoặc đối tượng khiến bạn tin rằng điều đó sự thật. Còn theo từ điển tiếng Việt thì chứng cứ cái cụ thể tỏ điều đó thật . Theo quy định tại điều 86 BLTTHS năm 2015 thì

Chứng cứ những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định hay không hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội những tình tiết khác ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án

Vấn đề thu thập chứng cứ của Luật , người bào chữa trong các công trình nghiên cứu khoa học trước đây như: Thu thập chứng cứ của người bào chữa quá trình phát hiện, ghi nhận, thu thập, bảo quản chứng cứ do người bào chữa thực hiện bằng các biện pháp được pháp luật cho phép góp phần làm sáng tỏ bản chất vụ án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 

Gần hơn nữa công trình nghiên cứu hoạt động thu thập chứng cứ của Luật bào chữa trong vụ án hình sự của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh (2019) đã đưa ra định nghĩa về thu thập chứng cứ

Hoạt động thu thập chứng cứ của luật bào chữa trong tố tụng hình sự việc phát hiện, ghi nhận, thu giữ bảo quản các thông tin, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội theo quy định của pháp luật nhằm bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ

Hoạt động thu thập chứng cứ cũng được đề cập đến trong bài viết của Nguyễn Thế Hưng (2020): Hoạt động thu thập chứng cứ một hoạt động của chủ thể chứng minh phát hiện, thu giữ, bảo quản các thông tin, liệu liên quan đến vụ án theo các trình tự, thủ tục pháp luật hình sự quy định

Đưa ra chứng cứ 

Khái niệm đưa ra? đưa ra” từ được ghép từ đuatừ ratheo từ điển tiếng Việt thì từđưa được hiểu chung nhất trao trực tiếp cho người khác từ rađược hiểu di chuyển đến một vị trí ngoài. Nếu thu thập chứng cứ khâu đầu tiên của chuỗi các hoạt động tố tụng giải quyết vụ án hình sự thì đưa ra chứng cứ thể được xem khâu sau cùng trong chuỗi hoạt động đó. Từ phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm về đưa ra chứng cứ như sau

Đưa ra chứng cứ hành động của người bào chữa đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật một cách chính thức trực tiếp cho quan thẩm quyền tiến hành tố tụng để bào chữa, bảo vệ cho người bị buộc tội

3. Chứng minh trong tố tụng hình sự: 

Khái niệm chứng minh ? hiểu theo nghĩa chung nhất làm cho thấy thật, dùng suy luận logic vạch một điều đó đúng

Theo John H. Langbein thì chứng minh công việc chính của quan pháp luật giải quyết các vấn đề của thực tế đã xảy ra trong quá khứ. vậy, việc tìm kiếm những đã xảy ra trong quá khứ để chứng minh cho sự thật sẽ thể cho kết quả hoàn toàn khác nhau khi việc thu thập các dữ liệu của vụ án được sắp xếp và tiến hành thái độ cách thức khác nhau. Việc chứng minh cho một vấn đề của vụ án hình sự hay sự kiện đã xảy ra trong quá khứ phải hoàn toàn tuân thủ tôn trọng tuyệt đối quy luật khách quan, tuyệt đối cấm định hướng, bóp méo dữ liệu của vụ án theo nhận định chủ quan của người thu thập. Do không trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội nên quan thẩm quyền THTT chỉ dựa vào các thông tin liên quan đến đối tượng chứng minh được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định để kết luận về các tình tiết của vụ án. Theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam của trường Đại học Luật Nội nội dung Chứng minh trong tố tụng hình sự đã đưa khái niệm quá trình chứng minh quá trình duy logic thực tiễn của quan người tiến hành tố tụng trên sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự để thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm giải quyết vụ án. Nội dung của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự thu thập, kiểm tra đánh giá các thông tin, liệu liên quan ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án hình sự (chứng cứ). Cả ba hoạt động này thống nhất, liên quan chặt chẽ với nhau, bổ trợ cho nhau đảm bảo cho quá trình nhận thức về vụ án được nhanh chóng, chính xác, khách quan

4. Khái niệm quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa: 

Việc xây dựng định nghĩa pháp về quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa ý nghĩa to lớn rất quan trọng trong nhận thức khoa học cũng như về mặt thực tiễn đối với việc bảo vệ quyền con người trong TTHS. Từ phân tích các mục trên bao gồm: người bào chữa, thu thập chứng cứ đưa ra chứng cứ cho thấy quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trong tố tụng hình sự đối tượng nghiên cứu quan trọng trong luật tố tụng hình sự nước ta cũng đối tượng nghiên cứu chính của luận văn này. Chính thế, khi làm sáng tỏ dưới góc độ khoa học luật TTHS những vấn đề luận về đối tượng nghiên cứu này thì theo tác giả quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa được xây dựng : quyền được tìm kiếm những thật đã xảy ra trong vụ án hình sự thu nhận chứng c, tài liệu, đồ vật theo quy định của pháp luật để đưa ra phục vụ cho hoạt động bào chữa nhằm gỡ tội cho người bị buộc tội.

5. Đặc điểm quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa: 

Trên sở định nghĩa khoa học về quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa thể thấy mặc mang những đặc điểm chung của quyền bào chữa những quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam đặc điểm cơ bản dưới đây

quyền tìm kiếm những thật đã xảy ra trong quá khứ một vụ án hình sự bằng cách thu thập những tài liệu, đồ vật lời chứng để thông qua đó ghép những mảnh ghép thành một chỉnh thể logic với hành vi của người bị buộc tội nhằm tìm ra những có lợi cho người bị buộc tội hoặc điểm bất hợp , thiếu sót người buộc tội sử dụng chúng làm căn cứ để buộc tội

Để thu, nhận được chứng cứ thì NBC phải thực hiện thông qua hành động cụ thể PLTTHS cho phép a) Gặp, hỏi người bị buộc tội; b) mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can; c) mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; d) các hoạt động điều tra khác; đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mình bào chữa; g) Đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người thẩm quyền tiến hành tố tụng; h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; 1) Kiểm tra, đánh giá trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan yêu cầu người thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; k) Đề nghị quan thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản; 1) Đọc, ghi chép sao chụp những tài liệu trong hồ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra; m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa

Đưa ra chứng cứ đã được thu thập tới quan thẩm quyền THTT trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án đều để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội tội. Pháp luật tố tụng hình sự nước ta đã cụ thể hóa việc đưa ra chứng cứ của người bào chữa bằng quy định tại khoản 2 điều 81 BLTTHS năm 2015: Tùy từng giai đoạn tố tụng, khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa, người bào chữa phải kịp thời giao cho quan thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ vụ án. Việc giao, nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này

 6. Vai trò của quyền thu thập, đưa ra chứng cứ của người bào chữa: 

Góp phần bảo đảm tuân thủ nguyên tắc pháp chế thượng tôn pháp luật của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong hoạt động TTHS

Góp phần bảo đảm thực hiện nguyên tắc hiến định về quyền bào chữa của người bị buộc tội được tự mình bào chữa hay nhờ người khác bào chữa cho mình trong quá trình tham gia tố tụng giải quyết vụ án hình sự. quan THTT người THTT phải tạo điều kiện cho người bị buộc tội thực hiện quyền của họ một cách nghiêm túc chứ không còn quy định trên giấy hoặc hình thức

Góp phần phân loại ranh giới một cách ràng theo vai trò của chủ thể buộc tội chủ thể gỡ tội phù hợp với nguyên tắc bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ kiểm tra, đánh giá chứng cứ một cách công bằng như đòi của thực tiễn hiện nay trong quá trình giải quyết vụ án

Góp phần xây dựng khung pháp về quyền của NBC trong hoạt động thu thập, đưa ra chứng cứ bảo đảm cho việc bào chữa thực hiện quyền đó một cách dễ dàng, hiệu quả ngăn ngừa những cản trở từ các cơ quan, tổ chức, nhân khác trong khi giải quyết vụ án

Thúc đẩy hoạt động bào chữa của NBC thực hiện nghiêm chỉnh trách nhiệm trong khuôn khổ hành lang pháp khi hành lang đó được ban hành một cách đầy đủ, chi tiết. Hành lang này sẽ bắt buộc phải thực hiện cho tất cả các chủ thể liên quan bao gồm buộc tội, gỡ tội quan, tổ chức, khác trong quá trình TTHS

Góp phần tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong hoạt động TTHS. Thứ nhất, thông quan hoạt động bào chữa cho người bị buộc tội, người bào chữa giúp họ hiểu được quyền nghĩa vụ của mình. Trong đó đặc biệt quyền Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình tội; Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan yêu cầu người thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá”. Thứ hai, đối với quan, tổ chức, nhân khác người bào chữa thông qua việc thu thập chứng cứ của mình giúp những người này hiểu, nhận thức đúng đắn hơn quy định của pháp luật liên quan đến việc cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật giúp làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo